Hà Giang mảnh đất địa đầu Tổ quốc luôn nằm trong tốp tỉnh nghèo của đất nước. Xóa đói, giảm nghèo, chăm lo an sinh xã hội luôn là nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh. Trao đổi với chúng tôi, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang, Nguyễn Trường Tô cho rằng để thoát nghèo cần lắm sự chung sức, chung lòng từ chính quyền, doanh nghiệp tới mọi người dân...
Nghèo nhưng giàu tiềm năng phát triển
- Đến Hà Giang hôm nay có thể cảm nhận được sự đi lên đầy khích lệ ở mảnh đất của những “cổng trời” và bạt ngàn đá tai mèo. Xin đồng chí cho biết một số thành tựu của tỉnh thời gian qua?
- Về nông nghiệp, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2009, sản lượng lương thực của tỉnh ước đạt 9,19 vạn tấn, tăng 3,6 ngàn tấn. Ngô và lúa vẫn là hai cây trồng chủ lực với diện tích gieo trồng và năng suất đều tăng. Đàn gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển ổn định. Tổng đàn trâu là hơn 150.700 con (tăng 9,16% so với cùng kỳ); đàn bò 92.662 con (tăng 8,05%); đàn lợn là hơn 380.700 con (tăng 6,73%)... Các chỉ tiêu chăm sóc, khoanh nuôi, phục hồi, bảo vệ rừng triển khai thực hiện đạt 100%. Do chịu ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới, thị trường xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, nên ngành công nghiệp của tỉnh nhìn chung cũng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp đã tổ chức lại sản xuất, tích cực tìm kiếm thị trường tiêu thụ nên vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá như xi măng tăng 75,7%, điện sản xuất tăng 11,5%, gạch các loại tăng 6,1%...
 |
|
Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang, Nguyễn Trường Tô
|
Về thu ngân sách, năm 2008, chỉ tiêu của Trung ương giao là 380 tỉ đồng, tỉnh phấn đấu thu được 427 tỉ đồng. Năm nay, hội đồng nhân dân tỉnh giao cho mức 420 tỉ đồng, chúng tôi sẽ phấn đấu đạt hơn 450 tỉ đồng.
- Những khó khăn mà tỉnh đang gặp phải trong việc phát triển kinh tế-xã hội là gì, thưa đồng chí?
- Có thể thấy Hà Giang nằm xa các vùng kinh tế trọng điểm, đường sá đi lại còn khó khăn nên khó thu hút các nhà đầu tư hơn. Dựa vào tiềm năng, chúng tôi có thể phát triển tốt công nghiệp khai thác khoáng sản và thủy điện. Nguồn nhân lực qua đào tạo của tỉnh chưa nhiều nên các nhà đầu tư còn ngần ngại khi đầu tư vào Hà Giang.
Điều kiện đường sá đi lại khó khăn, trình độ dân trí còn thấp là một cản lực rất lớn đối với công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Nhiều chủ chương, chính sách, chương trình phát triển kinh tế, hỗ trợ người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, ở cấp tỉnh và huyện triển khai tương đối thuận lợi, nhưng khi đến cấp xã triển khai xuống các thôn, bản thì rất khó khăn, chậm chạp làm hạn chế mức độ thành công của chương trình. Ví dụ, tỉnh có chương trình thâm canh nông nghiệp với chủ trương cho vay 9 tháng không lãi để người dân mua giống, vật tư, phân bón để trồng cây. Nhưng khi qua được hệ thống hành chính cơ sở, thông tin đến được với người dân thì dân đã mua giống rồi, vào thời vụ rồi…
Vì vậy, ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thì nhiệm vụ nâng cao dân trí, mở rộng và tăng chất lượng đào tạo nghề được đặt ra hết sức cấp thiết.
- Hà Giang sẽ chọn ngành nào, lĩnh vực nào là mũi nhọn, là “cần câu thoát nghèo” trong thời gian tới, thưa đồng chí?
- Hà Giang có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế như nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú gồm than, sắt, mangan, vàng, đá quý, chì, thiếc… Rừng ở Hà Giang còn tương đối nguyên sơ, cảnh sắc hùng vĩ, thơ mộng là điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch. Trong nông nghiệp có nhiều sản phẩm mang thương hiệu Hà Giang như chè, đậu tương, ngô, dê có thể làm hàng hóa thương mại. Hà Giang có tới 11 cửa khẩu với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) nên có thể đẩy mạnh được giao thương, xuất nhập khẩu. Ngoài ra, với hệ thống sông suối trên địa bàn, Hà Giang có thể tiếp tục phát triển thủy điện.
Chính quyền, doanh nghiệp và người dân chung sức xóa đói nghèo
- Được biết, hết năm 2008, tỉnh còn 27% số hộ nghèo. Trong thời gian tới, làm thế nào để tỉnh có thể giảm nhanh, bền vững được diện hộ nghèo?
Tốc độ giảm nghèo của Hà Giang cũng tương đối nhanh. Năm 2007, chúng tôi còn trên 35% hộ nghèo, đến năm 2008 chỉ còn 27%. Năm 2009 này, Hà Giang phấn đấu chỉ còn 22% hộ nghèo.
Chúng tôi thấy rõ rằng muốn xóa đói nghèo phải có sự kết hợp tốt giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Nhà nước phải hỗ trợ giống vốn, khuyến nông, khuyến lâm để hỗ trợ sản xuất cho bà con, hướng dẫn bà con thâm canh để có cái ăn. Để giải quyết lượng lao động lớn trên địa bàn, chúng tôi đã đẩy mạnh dạy nghề và xuất khẩu lao động. Ngoài một số đi xuất khẩu lao động, có rất đông con em nhân dân Hà Giang đi làm việc tại các khu công nghiệp, các đô thị trong cả nước. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn xác định tạo việc làm tại chỗ cho bà con là tốt nhất. Hiện có nhiều lao động địa phương đang làm việc tại các nhà máy thủy điện, công trường xây dựng trên địa bàn.
Chúng tôi nhận thấy rằng các chương trình xóa đói, giảm nghèo trong đó có sự tham gia của các doanh nghiệp là vô cùng hiệu quả. Ví dụ như thực hiện chỉ đạo của Chính phủ theo Nghị quyết 30a, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam đã tài trợ hơn 50 tỉ đồng cho hai huyện vùng cao nghèo của tỉnh là Yên Minh và Quản Bạ về đủ các mặt từ y tế, giáo dục, giải quyết nhà ở, phát triển kinh tế… Số tiền này tương đương mức thu ngân sách của hai huyện trong thời gian một năm. Đây là cơ hội để người dân hai huyện thoát nghèo nhanh và bền vững.
Chúng tôi cũng đang tuyên truyền, giáo dục nhận thức để người dân chủ động hơn trong việc thoát nghèo.
- Thời gian vừa qua, Chính phủ đã có chương trình “kích cầu” sản xuất, trong đó có việc cho phép người dân vay vốn ưu đãi để mua nông cụ, phân bón… Vậy chương trình này có xuống được với dân và có hiệu quả không?
- Gói kích cầu của Chính phủ là có hiệu quả và việc triển khai của hệ thống ngân hàng cũng bài bản. Hơn 200 đối tượng khách hàng, trong đó có hơn 100 doanh nghiệp tại Hà Giang được tiếp cận vốn vay, với số tiền hơn 100 tỉ đồng, đã giải quyết được các khó khăn tức thời, giữ được việc làm cho lao động. Với hơn 700 doanh nghiệp trên địa bàn nhưng chỉ có 800 lao động bị mất việc.
Tuy nhiên, việc tiếp cận vốn vay của người dân còn hạn chế khi chỉ có hơn 9 tỉ đồng trong số tiền nói trên là do người dân vay. Ngoài những khó khăn từ thủ tục, có một thực tế là ở vùng sâu, vùng xa, nơi nghèo khó tâm lý người nông dân chỉ muốn được nhận hỗ trợ trực tiếp, không muốn vay vốn, kể cả vay không lãi, vì vay chẳng biết lấy gì mà trả. Vì thế, như đã nói ở trên, người dân phải chủ động, tự nguyện hơn trong việc làm kinh tế, thoát nghèo, tránh tâm lý ỷ lại. Điều này phải trở thành nhận thức chung của cả cộng đồng. Ví dụ, khi làm nhà kiên cố cho dân, nếu cả làng, cả bản cùng xúm lại, góp công sức thì chi phí bỏ ra sẽ ít hơn, thuận lợi hơn.
HỒ QUANG PHƯƠNG (thực hiện)