QĐND Online - Hơn mười năm trước, nói đến giao thông Hoà Bình, người ta thường lắc đầu ngán ngẩm nhớ tới những cung đường đầy ổ gà, ổ voi, những vùng nông thôn xa xôi chưa có đường giao thông về xã, bản… Nhưng nay, sau nhiều năm quan tâm đầu tư, phát triển mạng lưới giao thông, đặc biệt với dự án cứng hoá giao thông nông thôn 2007-2012, bức tranh giao thông vận tải Hoà Bình đang thay da đổi thịt từng ngày. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Ngọc Việt – Giám đốc Sở Giao thông vận tải Hoà Bình về vấn đề này…
*PV: Thưa đồng chí, thời gian qua Hoà Bình đã đặt giao thông ở vị trí nào trong định hướng phát triển chung?
Đồng chí Nguyễn Ngọc Việt: Hoà Bình là cửa ngõ thủ đô, có cửa khẩu Tây Bắc sang Lào, giao thông vận tải Hoà Bình mang tính chiến lược trong vùng. Tuy nhiên, địa hình Hoà Bình hiểm trở, phức tạp, hệ thống giao thông có cả đường bộ, đường sông nhưng đều đi qua những vùng đồi núi. Từ Hoà Bình lên Tây Bắc phải leo dốc, có nhiều dốc sườn, dốc đứng, dốc sườn ngang, có nơi địa chất không ổn định…
 |
|
Đồng chí Nguyễn Ngọc Việt – Giám đốc Sở Giao thông vận tải Hoà Bình |
Hoà Bình luôn coi phát triển giao thông có vị trí rất quan trọng để thúc đẩy kinh tế phát triển, giao thông phải đi trước một bước để tạo hạ tầng cho phát triển kinh tế. Vì vậy, mặc dù là tỉnh nghèo nhưng Hoà Bình rất quan tâm tới giao thông vận tải. Đặc biệt gần đây, chúng tôi đã xây dựng quy hoạch phát triển giao thông bận tải của tỉnh giai đoạn 2007-2012, xem xét yếu tố vùng miền, tương lai phát triển của Hoà Bình trong xu thế chung của những đô thị vệ tinh thủ đô Hà Nội. Chúng tôi đã quy hoạch mạng lưới giao thông vận tải đồng bộ với quy hoạch vùng sinh thái, khu bảo tồn thiên nhiên, đảm bảo phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch gắn với bảo vệ môi trường thiên nhiên. Chúng tôi cũng xác định, phát triển nhanh chóng mạng lưới giao thông nông thôn để bảo đảm phục vụ tốt phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, đặc biệt quan tâm đến các vùng sâu, vùng xa…
PV: Cách đây chưa lâu, về dự một hội nghị ở Hoà Bình, chúng tôi được nghe con số “lạ”: cả tỉnh chỉ có vỏn vẹn 70km2 đường bộ. Đến nay, tình hình đã thay đổi ra sao?
Đồng chí Nguyễn Ngọc Việt: Đúng! Đó là con số có thật. Năm 1991, toàn tỉnh chỉ có 70km2 đường bộ. Thời gian qua, được sự quan tâm của Trung ương và nỗ lực của tỉnh, trực tiếp là sự quan tâm của các Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông vận tải, giao thông Hoà Bình đã có nhiều bước đột phá mới. Tính đến năm 2005 đã có 700 km2 đường bộ, tăng gấp 10 lần sau 14 năm và đến nay toàn tỉnh đã có 4000 km2 đường bộ, tăng gấp 6 lần chỉ sau hơn 2 năm. Mươi năm trước, toàn tỉnh có tới 18 xã không có đường ôtô, phải đi bộ thì nay 214 xã, phường trong tỉnh đều có đường ôtô vào trung tâm xã. Về đường sông với 148 km sông Đà và 48 km sông Bôi nay trên các sông đã có 8 cảng, 80% phương tiện đường thuỷ đã được đăng ký. Về vận tải hành khách đã có nhiều khởi sắc,Hoà Bình đã có đội xe chất lượng cao, có 20 tuyến nội tỉnh và hàng trăm tuyến xe liên tỉnh, góp phần thúc đẩy giao thương, dịch vụ và du lịch.
PV: Để giúp giao thông thực sự “đi trước”, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế nhanh và bền vững, Hoà Bình sẽ tập trung làm gì trong thời gian tới?
Đồng chí Nguyễn Ngọc Việt: Để tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, chúng tôi xác định phải tiếp tục phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ. Đặc biệt, Hoà Bình phải tập trung phát triển hệ thống giao thông liên tỉnh, nhất là phải nối liền đường Láng – Hoà Lạc tới thị xã Hoà Bình, đường 433 từ Đà Bắc đi Phú Thọ, Sơn La; nâng cấp quốc lộ 12, 21; phấn đấu đến năm 2010, Hoà Bình sẽ nhựa hoá 100% tỉnh lộ. Bên cạnh đó, chúng tôi thực hiện quản lý và khai thác tốt các tuyến đường sông, xây dựng cảng Bình Thanh, mỏ đá số 8, Bích Hạ phục vụ xây dựng nhà máy thuỷ điện Sơn La, xây dựng thêm 2 cây cầu qua sông Đà…
PV: Thời gian vừa qua, giá cả thị trường biến động, gây ra rất nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế nói chung, phát triển giao thông nói riêng, Hoà Bình đã giải bài toán này như thế nào?
Đồng chí Nguyễn Ngọc Việt: Thiếu vốn từ trước tới nay luôn là khó khăn chung của ngành giao thông. Nhưng với sự biến động giá cả, khó khăn lại chồng chất lên khó khăn. Tôi xin nêu một dẫn chứng rất rõ là câu chuyện làm đường nông thôn. Trước đây, thực hiện đề án giao thông nông thôn bằng bêtông, xi măng có ưu điểm là tiêu thụ được nguồn nguyên liệu của một số nhà máy xi măng địa phương. Lúc đó, Nhà nước góp vốn 60% còn nhân dân tham gia 40%, phong trào “cứng hoá giao thông” nông thôn đã phát triển rất mạnh. Nhưng chỉ sau một năm xảy ra trượt giá, giá vật liệu leo thang thì chuyển đổi cơ cấu vốn lại theo chiều ngược lại. Thời gian qua, chúng tôi đã nỗ lực thực hiện tốt các chương trình phát triển giao thông. Nhưng từ 2007-2012, nếu tình hình giá cả, vốn không được cải thiện, việc thực hiện kế hoạch sẽ vô cùng khó khăn. Giải pháp quan trọng nhất mà chúng tôi xác định là phải thực hiện “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, tăng cường công tác quản lý xây dựng cơ bản, coi trọng tiến độ, chất lượng công trình, tránh thất thoát, lãng phí. Chúng tôi xác định “làm đến đâu, chắc đến đó”, phát huy tính chủ động, sáng tạo, làm tốt công tác giải ngân, không để ‘ứ đọng” vốn.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng tôi nghĩ những nỗ lực trong phát triển giao thông nói chung, giao thông nông thôn nói riêng ở Hoà Bình thời gian qua là khả quan, đáng ghi nhận. Tôi đã đi một số nước và nhận thấy, giao thông nông thôn ở ta rất tốt, so với các nước láng giềng thì ta tiến xa hơn. Tôi tin tưởng rằng, giao thông Hoà Bình sẽ “về đích” sớm, tạo nhịp cầu cho tỉnh hoàn thành mục tiêu công nghiệp, hiện đại hoá vào năm 2020 như kế hoạch đã đề ra…
PV: Xin cảm ơn đồng chí
MINH HÀ – BÍCH NGỌC thực hiện