LTS: Nông nghiệp, nông thôn, nông dân luôn giữ vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn, nâng cao đời sống nông dân luôn là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chúng ta, là cơ sở bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Báo Quân đội nhân dân mở chuyên mục “Diễn đàn nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, nhằm tập hợp ý kiến, kiến nghị của cán bộ các ngành, các cấp, các nhà khoa học, đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài về thực trạng, nguyên nhân, giải pháp, mô hình, bài học kinh nghiệm trong nước và thế giới về vấn đề quan trọng này.

Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch lúa (ảnh internet)

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chúng ta tập trung phát triển mạnh lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn; xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp, phát huy các thành phần kinh tế nhất là kinh tế hộ; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển đời sống văn hóa... thu được nhiều kết quả quan trọng. Nhất là phát triển sản xuất hàng hóa, cải thiện đáng kể đời sống nông dân nhiều vùng và bộ mặt nông thôn. Thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống của nông dân nước ta trong những năm vừa qua là rất to lớn.

Những năm từ 2000 đến 2007, mỗi năm nước ta giảm gần 72.000ha đất nông nghiệp (riêng đất lúa bình quân mỗi năm giảm 41.000ha), thiên tai, dịch bệnh thường xuyên gây thiệt hại, nhưng tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy sản vẫn được duy trì và tăng trưởng khá, giá trị gia tăng đạt bình quân 3,71%/năm, giá trị tổng sản lượng tăng bình quân 5,24%/năm. Cơ cấu sản xuất có bước chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả, bước đầu gắn sản xuất với chăn nuôi, thủy sản, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt.

Tuy nhiên, nhiều vấn đề đang đặt ra đòi hỏi phải nghiên cứu, phân tích, có giải pháp xử lý kịp thời. Trong đó, luôn cần có giải pháp riêng cho người trồng lúa. Những tháng qua, sự tác động của thị trường thế giới đối với nông nghiệp nói chung và người trồng lúa nói riêng rất phức tạp. Trong hoàn cảnh giá cả tăng cao, nhu cầu lương thực thế giới cũng tăng nhanh, giá cả bất ổn, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp mạnh. Đó là: thắt chặt tiền tệ; tạm thời chưa tăng giá các mặt hàng thiết yếu: xăng dầu, điện, than; cắt giảm các dự án đầu tư hiệu quả kinh tế thấp… nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát. Đây là một hành động quyết liệt, cần thiết của Chính phủ. Bởi lẽ chúng ta phấn đấu giảm lạm phát cũng có nghĩa là giảm những khó khăn, ảnh hưởng tới cuộc sống của phần đông nông dân, đặc biệt là đối với người nghèo, những người đang hưởng lương từ ngân sách. Nhưng “phương thuốc” nào cũng có “tác dụng phụ” của nó, như đánh giá của Chính phủ. Mức tăng trưởng GDP của chúng ta sẽ giảm so với dự kiến ban đầu. Đất nước từ nền kinh tế bao cấp trước đây chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì khi các nền kinh tế lớn khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam cũng sẽ chịu ảnh hưởng là đương nhiên.

Chúng ta áp dụng hàng loạt các biện pháp để giảm lạm phát là cần thiết, kịp thời. Tuy nhiên, cũng cần quan tâm hơn nữa tới người nông dân, bởi họ là đối tượng chịu ảnh hưởng của lạm phát nhiều nhất. Việc tạm ngừng ký các hợp đồng xuất khẩu gạo mới, nhằm bình ổn giá lương thực trong nước là chủ trương rất đúng nhưng lại khiến giá lúa gạo giảm, gây thiệt hại cho nông dân. Thời gian qua, giá gạo trên thị trường Thế giới tăng mạnh, giá lúa trong nước cũng tăng, nông dân bán lúa được giá nhưng lợi nhuận không cao. Nguyên nhân do giá phân bón, thuốc trừ sâu liên tục tăng làm cho chi phí sản xuất của người nông dân tăng. Sau vụ lúa Đông Xuân được mùa tại Đồng bằng sông Cửu Long, nông dân bán lúa để trả vốn, lãi vay ngân hàng hoặc bán lúa để chuẩn bị vốn đầu tư cho mùa vụ mới. Hơn nữa, nông dân dù muốn gửi lúa lâu chờ giá lúa lên cũng khó thực hiện bởi điều kiện cơ sở vật chất và kiến thức hạn chế nên thường bị tổn thất, hao hụt. Đó là chưa tính tới yếu tố ảnh hưởng làm suy giảm chất lượng gạo.

Lâu nay, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn hoạt động theo kiểu “cò con”, “ăn đong”, nghĩa là mỗi khi có hợp đồng xuất khẩu gạo, doanh nghiệp mới tiến hành mua thóc của nông dân để chế biến gạo. Cách kinh doanh này thường khiến doanh nghiệp gặp nguy cơ rủi ro, thua lỗ, bị động về nguồn hàng. Khi doanh nghiệp ký hợp đồng với đối tác nước ngoài giá gạo ở mức thấp, đến khi giá gạo tăng thì doanh nghiệp sẽ chịu lỗ. Biện pháp thắt chặt tiền tệ khiến doanh nghiệp dù muốn mua thóc của nông dân cũng khó thực hiện do thiếu tiền. Chừng nào doanh nghiệp xuất khẩu gạo của chúng ta và người nông dân chưa tìm được tiếng nói chung thì cả doanh nghiệp và nông dân đều đứng trước khả năng bị thiệt hại về kinh tế. Chúng ta cần tính toán dự báo từng mùa vụ, từ đó tiến hành thu mua thóc với giá hợp lý nhằm bảo đảm doanh nghiệp không thua lỗ, người nông dân cũng bớt thiệt hại. Dĩ nhiên, Nhà nước phải có cơ chế, chính sách, hỗ trợ nguồn vốn cho doanh nghiệp thu mua thóc của nông dân khi cần thiết, để doanh nghiệp giữ vai trò điều tiết thị trường trong những trường hợp như thế.

Theo tôi, về lâu dài Nhà nước cần có những biện pháp giảm giá các loại vật tư nông nghiệp: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Nên khuyến khích, đẩy nhanh việc đầu tư tạo nguồn nguyên liệu để sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp trong nước (sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu của Việt Nam mới chỉ đáp 30% nhu cầu, 70% còn lại vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu).

Diễn biến mới của tình hình là cơ hội để chúng ta nhìn rõ những yếu kém, bất cập của sản xuất nông nghiệp, từ đó có những biện pháp khắc phục phù hợp. Tìm biện pháp giảm giá vật tư nông nghiệp không chỉ giúp nông dân giảm thiệt hại về kinh tế mà còn góp phần để chúng ta thực hiện mục tiêu xây dựng nền sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước, tăng tỷ trọng đóng góp cho nền kinh tế từ nông nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bảnh Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long