Phóng viên (PV): Thưa ông, từ thực tế triển khai chính sách, NCT không có lương hưu đang gặp những khó khăn gì? Trợ cấp hưu trí xã hội có ý nghĩa như thế nào?

Ông Nguyễn Xuân Lập: Thời gian qua, Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương rất quan tâm đến chính sách ASXH nói chung, với NCT nói riêng. Việc triển khai chính sách trợ cấp hưu trí xã hội, trong đó mở rộng đối tượng thụ hưởng là một bước tiến quan trọng.

Với NCT còn khả năng lao động, dù không có lương hưu, khó khăn có thể vơi bớt bởi họ vẫn có thể tạo ra thu nhập, nhưng với người không còn khả năng lao động mà không có lương hưu thì khó khăn chồng chất. Trước hết là nguồn thu nhập không ổn định thì đời sống cũng không ổn định, trong khi chi phí chăm sóc sức khỏe ở tuổi cao lại là gánh nặng lớn nếu không có những “giá đỡ” về an sinh và bảo hiểm y tế (BHYT). Trong bối cảnh đó, khoản trợ cấp dù chưa lớn (540.000 đồng/người/tháng) nhưng có ý nghĩa thiết thực. Đặc biệt ở khu vực nông thôn, với một số NCT, khoản tiền này có thể giúp bảo đảm những nhu cầu tối thiểu hằng ngày. Quan trọng hơn, chính sách còn gắn với bảo đảm BHYT, qua đó giảm gánh nặng khi NCT khám, chữa bệnh. Tôi cho rằng đây không chỉ là sự hỗ trợ về vật chất mà còn là sự động viên để NCT tiếp tục tham gia vào đời sống xã hội.

Ông Nguyễn Xuân Lập. 

PV: Theo ông, mức trợ cấp hưu trí xã hội nên được xác định dựa trên những căn cứ nào để vừa bảo đảm mức sống tối thiểu cho NCT, vừa phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và điều kiện kinh tế-xã hội?

Ông Nguyễn Xuân Lập: Nếu nhìn từ nhu cầu thực tế của một cá nhân, mức trợ cấp hiện nay chưa phải là lớn. Nhưng nếu nhìn trên quy mô toàn xã hội thì đây là nguồn lực rất lớn, bởi số người hưởng chính sách lên tới hàng triệu người. Tuy nhiên, về lâu dài, tôi cho rằng cần nghiên cứu phương thức xác định mức trợ cấp một cách khoa học hơn. Quan điểm cá nhân của tôi là nên nghiên cứu việc gắn mức trợ cấp với mức lương cơ sở hoặc một mức chuẩn có tính liên kết. Khi mức lương cơ sở được điều chỉnh theo điều kiện kinh tế-xã hội, mức trợ cấp cũng có thể được điều chỉnh tương ứng. Cách làm này sẽ tạo ra cơ chế ổn định, minh bạch hơn, thay vì mỗi lần muốn điều chỉnh lại phải có một quyết định riêng.

Người cao tuổi thi đấu tại Giải cờ tướng trung, cao tuổi toàn quốc năm 2025. Ảnh: THÁI THÀNH 

PV: Ngoài mức trợ cấp, theo ông đâu là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách?

Ông Nguyễn Xuân Lập: Bên cạnh mức trợ cấp, phải nhìn vào khả năng tiếp cận chính sách. NCT ở đô thị, nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số có điều kiện tiếp cận dịch vụ xã hội rất khác nhau. Ngay cả phương thức chi trả cũng có thể trở thành rào cản đối với một bộ phận NCT ở vùng khó khăn. Có người chưa quen với các phương thức thanh toán hiện đại, có người gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ hoặc thực hiện thủ tục. Vì vậy, có chính sách và có tiền mới chỉ là điều kiện cần. Quan trọng là người dân phải tiếp cận được chính sách và sử dụng được những dịch vụ mà chính sách mang lại. Tôi cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện mạng lưới trợ giúp xã hội theo hướng toàn diện. Trợ cấp tiền mặt là cần thiết nhưng không thể chỉ trông chờ vào một khoản trợ cấp. Cùng với trợ cấp phải là BHYT, bảo hiểm hưu trí và các dịch vụ chăm sóc NCT, đặc biệt là chăm sóc dài hạn. Chính sách cũng phải tính đến sự khác biệt giữa các vùng miền để NCT, dù ở thành thị hay nông thôn, miền núi hay vùng dân tộc thiểu số, đều có khả năng tiếp cận những dịch vụ cơ bản.

PV: Việt Nam đang già hóa dân số nhanh. Theo ông, chính sách đối với NCT, đặc biệt là nhóm không có lương hưu, cần được chuẩn bị như thế nào trong dài hạn?

Ông Nguyễn Xuân Lập: Già hóa dân số đặt ra thách thức ngày càng lớn đối với hệ thống ASXH. Vì vậy, nếu chỉ giải quyết bằng việc tăng trợ cấp thì chưa đủ. Trước hết, cần thay đổi cách nhìn về NCT. NCT không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là một lực lượng xã hội. Những người còn sức khỏe, còn khả năng lao động và có kinh nghiệm cần tiếp tục được tạo điều kiện tham gia sản xuất, hoạt động xã hội và đóng góp cho cộng đồng. Thứ hai, phải xây dựng một mạng lưới an sinh nhiều tầng, trong đó có BHYT, bảo hiểm hưu trí, trợ giúp xã hội và các dịch vụ chăm sóc NCT. Đặc biệt, chăm sóc dài hạn sẽ ngày càng quan trọng khi tuổi thọ tăng và số NCT ngày càng lớn. Thứ ba, cần có chính sách để người dân chủ động chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi còn trong độ tuổi lao động. Đây không thể là trách nhiệm riêng của Nhà nước hay gia đình mà cần sự tham gia của cả hệ thống. Về lâu dài, chúng ta cần chuyển từ tư duy “trợ cấp cho NCT” sang xây dựng một hệ thống ASXH toàn diện cho tuổi già. Mục tiêu cuối cùng là bảo đảm NCT có cuộc sống ổn định, được chăm sóc sức khỏe và tiếp tục được tham gia vào đời sống xã hội.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!