Tình trạng "bê tông hóa" cản dòng thoát nước đô thị

Những năm gần đây, tình trạng ngập lụt đã trở nên phổ biến tại nhiều địa phương trên cả nước, từ đồng bằng đến miền núi, ven biển đến vùng cao, đặc biệt, đây là bài toán bức thiết đặt ra với các đô thị lớn. Lý giải nguyên nhân vì sao tại nhiều đô thị cứ mưa là ngập, TS, kiến trúc sư Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch-Kiến trúc TP Hà Nội nhìn nhận, muốn thoát nước, đặc biệt là thoát nước mưa, đầu tiên phải dự báo được tác động của BĐKH. Đây là lĩnh vực rất khó mà thành phố vẫn chưa dự báo hết được.

Bên cạnh đó, hệ thống sông hồ và kênh mương thoát nước của thành phố ít được quan tâm, bảo dưỡng khiến rác thải nhiều, cho nên việc thoát nước ra cuối nguồn hoặc ra các dòng sông khác gặp rất nhiều khó khăn. Việc tổ chức kết nối hồ với hệ thống mương máng hiện nay cũng là vấn đề lớn còn tồn tại, mưa lớn nhưng nhiều cống ngầm không được khơi thông, đặc biệt không mở rộng tiết diện nên nước không thoát ra được.

 Khu vực chịu ảnh hưởng của lũ quét tại xã Mường Than (Lai Châu) vào giữa tháng 7-2026. Ảnh: THẾ BẰNG

Trong khi đó, GS, TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, các quy định về không gian cây xanh không được bảo đảm, dẫn đến tình trạng “bê tông hóa” diện rộng. Cây xanh đóng vai trò như một kho giữ nước tự nhiên, thấm hút, làm chậm dòng chảy. Khi vắng bóng cây xanh, nước mưa nhanh chóng dồn tụ gây ngập úng bề mặt. Tiêu chuẩn với đô thị đặc biệt như Hà Nội phải đạt trên 7m² cây xanh/người, nhưng thành phố mới chỉ đạt khoảng 4-5m².

Mặt khác, theo các chuyên gia, diện tích hồ nước tự nhiên ở Hà Nội đang bị thu hẹp. Những ao nhỏ bị lấp, nhiều hồ lớn cũng bị thu nhỏ lại. Như vậy, diện tích mặt nước của Hà Nội không bảo đảm đủ để điều hòa lượng nước mưa. Bên cạnh đó, thực tế cho thấy nhiều khu đô thị quy định bắt buộc phải có hồ điều hòa nhưng không thực hiện, thay vào đó lại xây chung cư hoặc khu vui chơi giải trí...

Nhìn nhận về tình trạng ngập úng tại đô thị, ông Phạm Đức Luận, Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhấn mạnh đến nguyên nhân do công tác quy hoạch và phát triển đô thị chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, nhiều sông, kênh, rạch đi qua đô thị bị lấn chiếm hoặc bị cản trở dòng chảy, khiến việc tiêu thoát nước gặp khó khăn. Hệ thống tiêu thoát nước chưa được duy tu, bảo dưỡng thường xuyên. Hệ thống cống, rãnh không được nạo vét, khơi thông định kỳ nên nước không thể thoát kịp khi có mưa lớn.

Theo ông Phạm Đức Luận, với mỗi đô thị, cần phân loại nguyên nhân để có giải pháp phù hợp. Ví dụ tại Hà Nội, ngập úng chủ yếu do mưa lớn, còn Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh thì nguyên nhân do kết hợp cả mưa và triều cường. Hay như ở khu vực đô thị của tỉnh Thái Nguyên, do lũ ở sông lên cao cùng với mưa lớn dồn dập trong một thời điểm dẫn đến gây ngập cho nhiều khu vực trên địa bàn.

Khu vực xung yếu ở miền núi tiềm ẩn nguy cơ lũ quét, sạt lở

Trước mỗi mùa mưa bão, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá vẫn là nỗi ám ảnh thường trực với người dân, nhất là khu vực vùng cao, miền núi. Những bản làng bị vùi lấp, dòng suối hiền hòa bỗng hóa hung dữ, cuốn phăng mọi thứ trong dòng nước xiết. Đồng chí Giàng Quốc Hưng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai cho biết, khó khăn lớn nhất của Lào Cai hiện nay là thiên tai diễn biến ngày càng cực đoan, bất thường, trong khi địa hình của tỉnh là miền núi, biên giới, chia cắt mạnh, nhiều sông, suối, độ dốc lớn, dân cư phân bố không đồng đều. Nhiều khu dân cư vẫn nằm ven sông, suối, chân taluy, sườn đồi, nơi có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt.

Qua rà soát, toàn tỉnh Lào Cai hiện có 3.428 điểm, khu vực có nguy cơ xảy ra thiên tai, với trên 23.000 hộ dân có nguy cơ bị ảnh hưởng. Trong đó có 2.795 điểm nguy cơ sạt lở đất, 404 điểm nguy cơ ngập lụt và 229 điểm nguy cơ lũ quét. Đây là con số rất lớn, đặt ra yêu cầu cấp bách trong công tác cảnh báo, di dời dân cư, đầu tư hạ tầng và tổ chức ứng phó tại cơ sở.

Thiếu tướng Hoàng Ngọc Dũng, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 2 từng có nhiều năm gắn bó với địa bàn miền núi, vùng cao, nhìn nhận lũ lụt, lũ ống, lũ quét ở khu vực miền núi là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên và tác động của con người, trong đó mưa lớn cường độ cao trong thời gian ngắn vẫn là nguyên nhân trực tiếp và phổ biến nhất. Địa hình núi cao, chia cắt mạnh, sườn dốc lớn, hệ thống sông, suối ngắn và hẹp khiến nước mưa tập trung rất nhanh, tạo dòng chảy xiết cuốn theo đất đá, cây cối, gây lũ quét và sạt lở. Tuy nhiên, thiên tai chỉ trở nên đặc biệt nguy hiểm khi kết hợp với các yếu tố do con người tạo ra như suy giảm diện tích rừng tự nhiên, khai thác khoáng sản, san gạt taluy, mở đường, xây dựng công trình làm mất ổn định sườn dốc, cản trở dòng chảy.

Bên cạnh đó, tập quán sinh sống lâu đời của một bộ phận đồng bào ở ven suối, chân núi, cửa khe hoặc vùng bãi bồi cũng làm gia tăng đáng kể nguy cơ thiệt hại khi thiên tai xảy ra. Đáng chú ý, dưới tác động của BĐKH, các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất ngày càng dày hơn, cường độ mạnh hơn và diễn biến khó dự báo hơn, khiến nguy cơ lũ ống, lũ quét ở miền núi ngày càng lớn, đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ giữa quy hoạch dân cư, bảo vệ rừng, tăng cường hệ thống cảnh báo sớm và nâng cao năng lực ứng phó của cộng đồng.

Vẫn còn tâm lý chủ quan trước thiên tai

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dù thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan nhưng không ít người dân vẫn còn tâm lý chủ quan, nhận thức chưa đầy đủ về mức độ nguy hiểm của thiên tai. Ở một số nơi, chính quyền địa phương chưa quyết liệt, triệt để hoặc chưa thực hiện kịp thời chỉ đạo của cấp trên trong phòng, chống thiên tai.

Bên cạnh đó, mạng quan trắc khí tượng thủy văn chưa đủ mật độ, chưa tích hợp đồng bộ về dữ liệu, các phần mềm mô phỏng, tính toán thủy văn hiện nay độ tin cậy chưa cao khi áp dụng vào thực tế, đặc biệt đối với các khu vực miền núi, vùng biên giới, hải đảo và ven biển. Nguồn lực đầu tư cho cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai (hệ thống đê điều, hồ đập, dự báo, cảnh báo...), hệ thống thông tin liên lạc, lưới điện, hạ tầng công cộng và nhà dân chưa đủ sức chống chịu với sức tàn phá của thiên tai.

Đáng lưu ý, phương án ứng phó với thiên tai vẫn còn hình thức, chưa xét đến tình huống mưa lũ cực đoan, vượt lịch sử, chưa tổ chức diễn tập ứng phó sát với thực tế. Đặc biệt, chưa bố trí đủ nguồn lực để xây dựng phương án, việc kiểm tra, xác định các khu vực trọng điểm để xây dựng phương án chưa được quan tâm đúng mức trước mùa mưa lũ, nhất là khu vực miền núi.

Một vấn đề rất cần được lưu tâm đó là việc lập quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, hạ tầng chưa lồng ghép, đánh giá đầy đủ tác động của thiên tai, dẫn đến gia tăng rủi ro thiên tai, thay đổi dòng chảy, cản trở thoát lũ, gây ngập lụt trầm trọng hơn như các tuyến giao thông đường bộ, cao tốc, đường sắt vuông góc với hướng dòng chảy, các cống thoát nước không đủ khẩu độ gây cản trở việc thoát lũ, ngập úng phía thượng lưu; san lấp hồ ao làm giảm không gian trữ lũ; sử dụng đất ven sông, bãi sông làm công trình, bến, bãi gây thu hẹp dòng chảy, cản trở thoát lũ...

Hiện nay, hệ thống hồ chứa nước thủy lợi, thủy điện là một trong những lá chắn để điều tiết nước, chặn dòng nước từ thượng nguồn, giảm lũ cho hạ du. Tuy nhiên, Bộ Công Thương lưu ý, vùng hạ du tại một số thủy điện bị lấn chiếm xây dựng, canh tác hoặc đổ thải làm cản trở quá trình thoát lũ của các hồ chứa, gây nguy cơ mất an toàn cho tính mạng và tài sản của nhân dân. Một số quy trình vận hành hồ chứa cũng chưa được cập nhật, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế. Công tác vận hành, điều tiết hồ chứa chưa linh hoạt, hiệu quả, phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp còn chậm. Các kịch bản vận hành hồ chứa, kế hoạch ứng phó chưa chi tiết, cụ thể dẫn đến lúng túng khi xảy ra các tình huống bất thường. Đây là những vấn đề cần được khắc phục để bảo đảm các hồ chứa phát huy tối đa vai trò điều tiết nước, nhất là trong mùa mưa bão.

(còn nữa)