Nằm nép mình dưới chân núi, ngôi chùa Long Đẩu hướng về phía mặt hồ Long Trì gợn sóng lăn tăn. Thoảng trong tiếng chuông ngân là những câu hát chèo ới a bay bổng dặt dìu. Giữa không gian nhuốm màu thiền u tịch, tiếng hát chèo như làn gió thoảng làm xao động lòng người.
Trước mái già lam, Thượng tọa Thích Trường Xuân trụ trì chùa Long Đẩu đang say sưa luyện hát điệu “Tình thư hạ vị”. Chiếc quạt nâu khẽ đưa ra, lời ca hòa nhịp trầm bổng “Rượu đào chứ tay anh đã rót...”. Đã bao buổi tập, bà con trong vùng lại có dịp được nghe tiếng hát của Thượng tọa, lòng thêm phần hoan hỉ, cảm cái đức, phục cái tài của thầy. Trên con đường tu tập gập ghềnh, Thượng tọa có thêm câu ca điệu nhạc của cha ông để truyền tải giáo lý nhà Phật giúp nâng đỡ tâm hồn chúng sinh.
 |
|
Thượng tọa Thích Trường Xuân hướng dẫn thành viên Câu lạc bộ hát chèo Sài Sơn luyện tập. |
Thượng tọa đến với khúc hát chèo tự nhiên như hơi thở cuộc sống. Thầy xuất thế trên quê hương xã Chúc Sơn (Chương Mỹ, Hà Nội), từ thuở thơ bé đã được nghe câu chèo của bà, của mẹ, của người dân quê cứ vang lên trong ngõ xóm, sân đình. Tình yêu với những làn điệu chèo cứ ngấm dần và theo thầy đến với cửa thiền. Thật là một duyên may khi Phật giáo luôn hòa hợp với văn hóa truyền thống dân tộc, khúc hát chèo luôn gắn bó với chốn tâm linh đình, chùa. Mảnh đất Sài Sơn lại có nghề múa rối dùng câu hát chèo để biểu diễn. Về tu tập tại Long Đẩu, thầy có dịp tiếp xúc với rối nước, càng yêu thêm tiếng hát chèo.
Biết dân trong vùng vốn yêu văn hóa văn nghệ, thầy nhiệt tâm gây dựng Câu lạc bộ hát chèo Sài Sơn. Rất nhiều em nhỏ đến xin tham gia. Thầy tận tình hướng dẫn các em tập từng câu hát, diễn từng tích trò. Vốn là chỗ thân quen với các nghệ sĩ hát chèo nổi tiếng, như: Văn Chương, Hồng Ngát, chẳng quản nề hà, thầy cất công đi mời các nghệ sĩ về chỉ dạy. Những buổi tối, sân chùa lại rộn vang tiếng nói cười trẻ thơ, các em say sưa hát múa. Thầy còn kỳ công đặt lời mới theo các làn điệu cổ. Trong những dịp Đại lễ Vu lan báo hiếu, Phật đản, các thời khóa giảng vào mùa an cư kiết hạ hay các sự kiện Phật giáo, thầy đều hướng dẫn các em biểu diễn các tích trò, như: Mục Kiền Liên cứu mẹ, Quan âm Thị Kính, Quan âm Diệu Thiện... Thông qua mỗi trích đoạn, thầy muốn truyền dạy cho các em về đạo đức, nhân cách, hiếu hạnh, nhân quả trong đạo Phật, thêm yêu mến chèo.
Khi hướng dẫn các thành viên câu lạc bộ, thầy cũng hóa thân thành nhân vật để cùng luyện tập. Từng động tác, điệu bộ được thầy chỉ dạy cẩn thận, chu đáo. Chèo có tính ước lệ cao nên không chỉ hát hay mà còn phải diễn khéo. Ví như đôi bàn tay khi là chiếc gương soi, lúc lại thành chén rượu đào. Chỉ với cây quạt trên tay, thầy xòe ra là trang kinh thư, lúc xếp lại dựng thành cán bút, khi đưa lên đầu bỗng hóa ô che... Lên sân khấu khi hóa thân thành nhân vật, thầy cũng trải qua các cung bậc “hỉ, nộ, ái, ố”. Các vai diễn trong chèo thầy đều yêu thích nhưng do tính cách của người tu hành nên thầy hợp với những vai chèo kinh điển, như: Lưu Bình, Dương Lễ, Từ Thức, Thiện Sĩ.
Điều gì khiến một vị tu hành có thể bước ra cửa thiền để đứng trên sân khấu biểu diễn chèo? Nghe câu hỏi ấy, thầy cười hiền, nói rằng: “Chèo là tiếng hát dân gian, là hồn cốt cha ông để lại. Thầy đến với chèo là niềm yêu thích đam mê với vốn cổ, với nghệ thuật truyền thống chứ đó không phải là sự vui thú hưởng lạc. Qua từng câu hát lời ca để thầy truyền tải giáo lý nhà Phật, giáo hóa chúng sinh cuộc sống từ bi hỉ xả, hướng đến cái chân, thiện, mỹ. Do vậy, công chúng nhìn thầy trên sân khấu là nhìn nhân vật vai diễn chứ không phải là nhìn vào một vị tu hành”.
Trong tư duy cởi mở Phật giáo nhập thế chứ không phải ẩn mình lánh đời, thầy mang lời ca tiếng hát về với bà con lối xóm. Ngay tại quê hương Ninh Sơn, thầy cũng lập ra một đội chèo tận tình hướng dẫn nhân dân. Thầy còn nhớ lần đi biểu diễn chèo ở làng phong Phú Mãn (Quốc Oai, Hà Nội). Người dân trong làng rất xúc động vì đã mấy chục năm mà chưa được xem văn công, nay có đoàn của thầy về biểu diễn, tổ chức tặng quà, vui liên hoan cùng các cháu là con em bệnh nhân trong làng. Những bệnh nhân phong đã ôm lấy thầy mà khóc. Trước đây, các đoàn khách đến tặng quà, làng tổ chức tiếp đón tại hội trường, bố trí nước đóng chai riêng mà không ai dám uống. Vậy mà thầy bắt tay thăm hỏi, uống những ngụm nước nghĩa tình của các bệnh nhân phong và biểu diễn văn nghệ cho họ xem. Chính tiếng hát chèo thân thương đã xóa nhòa mặc cảm của những bệnh nhân, giúp họ có thêm niềm vui trong cuộc sống.
Nặng lòng với tiếng chèo quê hương lại có thêm chút năng khiếu nên thầy đã đặt lời cho nhiều khúc hát chèo gửi soạn giả Mai Văn Lạng sử dụng trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Lại thêm duyên may, những khúc hát ấy được chính nghệ sĩ chèo và cũng là bạn hữu của thầy, như: Văn Chương, Minh Phương, Quốc Phòng thể hiện. Khi đi thuyết giảng hay các sự kiện, hội nghị, thầy lại được các phật tử quý khách yêu cầu hát tặng. Yêu nhạc lại mến thơ nên tại chùa Long Đẩu, thầy được đón tiếp đoàn đại biểu thơ quốc tế gặp mặt nhân Ngày thơ Việt Nam (năm 2012). Trước khách thơ quốc tế, thầy ngâm thơ và ca vang khúc hát chèo sâu nặng nghĩa tình. Bạn thơ vô cùng phấn khởi tán thưởng khi được nghe tiếng hát chèo của một vị tu hành giữa chốn thiền gia linh thiêng.
Dẫu cho công việc phật sự còn lắm bộn bề, nhưng vị Thượng tọa vẫn luôn nặng lòng với cuộc sống của những người dân quê. Qua tiếng hát chèo yêu thương, vị tu sĩ muốn chúng sinh hiểu đạo yêu đời để từ đó thêm trân quý cuộc sống giữa miền nhân gian.
Bài và ảnh: VŨ DUY