QĐND - Trong giới nghiên cứu lý luận văn học trên thế giới đang có ba quan niệm khác nhau về vị trí và chức năng của lý luận văn học:
1. Có mỹ học văn học bên cạnh lý luận văn học nhưng khác với lý luận văn học, nó không nghiên cứu bằng phương pháp quy nạp chuyên ngành mà nghiên cứu trong mối liên hệ với lý luận nghệ thuật nói chung.
2. Không có mỹ học văn học, chỉ có lý luận văn học như là siêu khoa học, nó nghiên cứu bằng khái niệm được đặt ra từ hoạt động nghiên cứu thực nghiệm (như nghiên cứu lịch sử văn học, phong cách học, thi pháp...) và những khái niệm đó được lý luận văn học nghiên cứu trong hệ thống của những khái niệm chung nhất.
3. Lý luận văn học là lý luận khoa học, đối tượng nghiên cứu của nó không phải là bản thân văn học mà chính là khoa học văn học. Như là siêu khoa học của khoa học văn học, lý luận văn học nghiên cứu những vấn đề thuộc về phương pháp luận của khoa học văn học.
Trong mỗi quan niệm trên đây, bên cạnh mặt đúng còn có mặt không đúng do quá đề cao hoặc quá hạn chế chức năng của lý luận văn học. Nhưng việc làm sáng tỏ vị trí và chức năng của lý luận văn học trong hệ thống khoa nghiên cứu văn học là cần thiết, và sự phát triển của tư duy khoa học đòi hỏi phải phân biệt ranh giới giữa các ngành nghiên cứu, cho dù chúng đều nằm trong một hệ thống khoa học thống nhất, có chung một đối tượng nghiên cứu như khoa học văn học. Lý luận văn học cùng với lịch sử văn học và phê bình văn học tạo nên một hệ thống khoa học, trong đó mỗi ngành nghiên cứu đều có mối liên hệ gắn bó với nhau, đồng thời vẫn độc lập về đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Quá trình "tự ý thức về mình" của mỗi ngành khoa học này xảy ra không phải do thiên vị, hẹp hòi mà là do nhu cầu phát triển nội tại của khoa học, quá trình đó gắn liền với sự phát triển chung của khoa học văn học.
Do bao gồm nhiều ngành khoa học, khoa nghiên cứu văn học còn được gọi là các khoa học văn học. Các khoa học văn học này không phải ngay từ khởi đầu đã tạo được một hệ thống nghiên cứu thống nhất với những cố gắng nhằm kết hợp các kết quả của những ngành khoa học giáp ranh. Ở giai đoạn mới hình thành, khoa học văn học chưa phân định rạch ròi ranh giới giữa các ngành nghiên cứu, thậm chí quá coi trọng lĩnh vực này mà xem nhẹ lĩnh vực kia, hoặc là đồng nhất một số lĩnh vực như trong trường hợp lý luận văn học và phê bình văn học thế kỷ XIX.
Bước vào thế kỷ XX, trong hệ thống khoa học văn học, sự phân công công việc đã được thể hiện một cách có ý thức. Nhà nghiên cứu văn học Thụy Sĩ, ông Max Wehrli trong cuốn “Khoa học văn học đại cương” đã cho rằng, ngành thứ ba của khoa học văn học là nghiên cứu ngữ văn, với nhiệm vụ cụ thể là gìn giữ và cứu vớt văn bản. Trong bộ ba ngữ văn-lý luận văn học-lịch sử văn học, Max Wehrli đã khu biệt hoạt động của khoa học thực nghiệm ra khỏi hoạt động của lý luận phổ thông. Còn Henryk Markiewicz-nhà lý luận có tên tuổi người Ba Lan đã chia khoa học văn học làm ba lĩnh vực chính:
1. Lịch sử văn học (gồm nghiên cứu lịch sử văn học, phê bình văn bản, văn học dân gian, văn học so sánh).
2. Lý luận văn học (gồm nghiên cứu thi pháp, trong khuôn khổ đó nghiên cứu phong cách học, thi học và lý luận thể loại).
3. Siêu khoa học của văn học (gồm nghiên cứu phương pháp luận của khoa học văn học và văn bản học).
Điều đáng lưu ý ở đây là Markiewicz đã tách lý luận văn học ra khỏi siêu khoa học văn học, theo ông, lý luận văn học không nghiên cứu những vấn đề phương pháp luận. Đây là quan điểm mới, khác với quan điểm của nhiều nhà lý luận hiện nay trên thế giới, và ý kiến của chúng tôi cũng không đồng nhất.
Trong hệ thống khoa nghiên cứu văn học, các ngành nghiên cứu thực nghiệm (lịch sử văn học, phê bình văn học, văn bản học) có thể chờ đợi gì ở lý luận văn học, và ngược lại lý luận văn học có cần phải dựa trên những kết quả của nghiên cứu thực nghiệm không? Vấn đề này tưởng không có gì phải bàn đến, nhưng trong thực tế, do không nhận thức đúng vị trí và chức năng khoa học của mỗi ngành mà người ta đã có những đòi hỏi sai lệch. Những yêu cầu không đúng sẽ làm cho khoa học văn học không phát huy được hết chức năng đích thực của mỗi ngành nghiên cứu, dẫn đến chủ nghĩa sơ lược, hoặc làm phát triển thiên lệch một số lĩnh vực nào đó nhưng hiệu quả khoa học vẫn không cao. Tính chất độc lập của lý luận văn học xuất phát từ mục đích và phương pháp tiếp cận đối tượng, từ hệ thống logic riêng của nó. Chẳng hạn đứng về phương diện xã hội học thì phê bình văn học là một trong những công cụ có hiệu lực trong khâu tác động qua lại giữa văn chương và độc giả. Một mặt phê bình văn học chuyển tiếp, truyền bá văn chương, giúp người đọc hiểu tác phẩm trong mối liên hệ với xã hội, mặt khác, phê bình văn học còn làm công việc chọn lọc các tác phẩm mới xuất bản, giúp các tầng lớp hoặc các nhóm độc giả hình thành thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh trong việc tiếp nhận văn chương. Có thể nói rằng, hiệu quả lớn nhất của phê bình văn học là sự hình thành công chúng văn học. Phê bình văn học và lý luận văn học khác nhau ở chỗ, lý luận văn học cố gắng đạt được sự nhận biết mang tính hệ thống các hiện tượng văn học, lý luận văn học hoạt động trên bình diện cái trừu tượng, còn phê bình văn học luôn bám vào các tác phẩm văn chương cụ thể. Phê bình văn học nêu lên những vấn đề của văn học đương đại, nhưng việc nắm bắt và nêu lên một cách khái quát những quy luật phát triển của văn học nằm trong các hiện tượng mới xuất hiện thì không phải là nhiệm vụ của phê bình văn học.
(Còn nữa)
PGS, TS TRƯƠNG ĐĂNG DUNG