Một ngày đầu năm, tôi cùng mấy người bạn rủ nhau về thăm cụ và cũng để “xin vía”, “yêu già già để tuổi cho”.

Thời gian này, tiết trời ở đây khá đỏng đảnh, sáng thì se lạnh, mưa phùn nhẹ, trưa nắng ráo, chiều lại mưa gió. Nghe có người tới thăm, cụ mới bỏ việc từ ngoài vườn đi vào.

Lưng cụ đã còng, người nhỏ xíu, nhưng đôi mắt vẫn sáng lên nét tinh anh trên khuôn mặt hiền từ dày đặc vết thời gian. Tiếp chúng tôi trong căn nhà cấp 4 nho nhỏ, nhưng ngăn nắp, gọn gàng và sạch sẽ. Nhìn căn nhà, không ai nghĩ một mình cụ già 105 tuổi mà sống và sắp xếp đồ đạc đâu vào đó như vậy.

Bà Hai ngồi kể chuyện và hát bài chòi.

Mỉm cười hiền hậu, cụ mời chúng tôi ly nước chè xanh, món mà cụ ưa thích mỗi sớm mai thức dậy. Chú mèo vàng trốn lạnh nằm đâu lại chạy về nép vào chân cụ tìm hơi ấm.

Theo bà Hai, cụ ông “nhảy núi” theo cách mạng từ lúc còn rất trẻ, rồi hy sinh trong một trận đánh ngay chính trên quê hương mình. Bà sinh năm Tân Dậu - 1921. Vợ chồng cụ sinh được 5 người con, nhưng nay chỉ còn lại ba. Các con đều đã có gia đình thành đạt với tất cả 18 đứa cháu, 11 đứa chắt và 1 đứa chút.

Uống thêm ngụm nước chè ấm, bà Hai chậm rãi kể: Tôi sinh ra và lớn lên ở làng Túy Sơn (Hoài Nhơn cũ), nhưng lấy chồng ở làng Huy Tường bên cạnh. Những ngôi làng tựa mình vào chân núi Nhiệm, núi Én tiếp giáp tỉnh Quảng Ngãi, quanh năm cây trái xanh tốt, nhất là dừa, ở đâu cũng thấy dừa, dừa bạt ngàn và cũng là nguồn thu nhập chính của bà con.

Trước năm 1975, đây là vùng đất tranh chấp chiến tuyến “ngày quốc gia - đêm cộng sản”, người dân ở đây được bộ đội, du kích về tuyên truyền nên giác ngộ cách mạng và đa số theo cách mạng. Mặc dù bà con thôn làng nói chung, gia đình cụ nói riêng, làm ruộng còn khó khăn, nhưng khi nghe cách mạng kêu gọi hỗ trợ lương thực, gạo cơm là bà con lúc nào cũng ủng hộ nhiệt tình, đầy đủ và cầu mong đến ngày chiến thắng, thống nhất đất nước, được đón Bác Hồ vào thăm.

Theo bà Hai, cũng giống như người dân cả nước, bà con người Hoài Nhơn rất yêu quý và lưu giữ nét văn hóa truyền thống của quê hương. Mỗi khi Tết đến, xuân về thì nhà nào cũng đua nhau làm bánh chưng, bánh tét, bánh in bột nếp có nhân gói giấy màu, hình vuông sắc cạnh để đặt lên bàn thờ, thờ cúng ông bà tổ tiên.

Những ngày lễ, Tết, bà con dân làng thường tổ chức các buổi gặp mặt hay còn gọi là hội làng. Mọi người mừng vui, gặp nhau tay nắm chặt tay, rồi chúc mừng sức khỏe, chúc mừng những gia đình có thành viên mới như sinh thêm con cháu, làm ăn phát đạt. Đặc biệt trong những buổi hội làng, bà con thường cùng nhau hát những bài ca truyền thống, nhưng vui và hấp dẫn nhất, mang đậm nét văn hóa địa phương nhất vẫn là hát bài chòi, đọc vè.

Nói xong, như để minh chứng “câu chuyện quê hương mình”, bà Hai uống thêm ly nước, nhìn chúng tôi cười vui rồi bắt đầu hát bài chòi, mà theo bà đây là “nét đặc sản” có một không hai của người dân Bình Định xứ nẫu, mà ai ai tuổi từ 50 trở lên cũng biết và thuộc rất nhiều, “riêng tôi đã thuộc nhiều lại còn thích hát”, bà nói.

Trời gần trưa, những cơn mưa phùn gió lạnh nhường chỗ cho tia nắng ấm, gió lao xao từ rặng dừa thổi tới. Giọng bà vang lên không còn rung ngân như tuổi thiếu thời, nhưng vẫn rất rõ ràng, truyền cảm: Anh ơi về lại quê em/với con đò chở trời đêm năm nào/phút giây xúc động nghẹn ngào/Lại Giang ơi (tên con sông ở Hoài Nhơn) ngọn gió trào năm xưa/đây rồi cồn cát rừng dừa/đây rồi xóm nhỏ mẹ đưa con về/hai mươi năm mấy nắng mưa/để hôm nay những rừng dừa lại xanh/ngọt ngào con nước trong lành/trái tim nuôi cánh đồng xanh mượt mà/Hoài Nhơn giây phút chia xa/ nén hương cùng với vòng hoa dâng người...

Đến đây bà Hai dừng lại, tôi thấy khóe mắt bà ửng đỏ, rung nhẹ, có lẽ bà đang xúc động khi nhớ lại những năm tháng chiến tranh, những trận đánh, những trận chống càn ác liệt trên quê hương. Và trong khói đạn của những trận chiến đó, chồng bà đã anh dũng hy sinh, để lại những tổn thất lớn lao nhất cho bà và những đứa con thơ dại.

 Bà Hai vẫn tự nấu cơm.

Trả lời câu hỏi của chúng tôi, bà có “bí quyết gì” mà trường thọ đến vậy? Bà Hai cười vui rồi trả lời: “Dù sống một mình, nhưng tôi vẫn giữ nếp sống lành mạnh, đơn giản, ăn uống đạm bạc, chủ yếu là cơm với nồi cá đồng, cá biển kho khô, rau thì tự mình trồng.

Hằng ngày, bà vẫn tự nấu cơm, tự tắm gội, giặt, phơi quần áo, lau nhà và quét sân sạch sẽ từ đầu đến cuối. Ba đứa con tôi đến nay đều thành đạt, đứa nào cũng bắt tôi về ở với tụi nó nhưng tôi không chịu. Nhớ thương con cháu và nhà các con có việc gì thì tôi đến nhà thăm rồi ở chơi hai, ba ngày lại về, còn đa số chúng nó rảnh thì về thăm tôi thôi''.

Khi trong vườn có đu đủ hay buồng chuối chín, ăn không hết, bà lại đem san sẻ cho bà con gần nhà và nhiều lúc bà cũng nhận lại những thứ quà cây nhà lá vườn từ những người xung quanh.

Bà Hai thường quét sân, lau nhà sạch sẽ.

Như thành thói quen, tối bà ngồi coi tivi một lúc là ngủ, sáng dậy sớm đi lại trong vườn, nhổ cỏ cho vườn rau, nhặt cành lá khô, rồi vào nhà nấu ăn. Ăn xong mở tivi coi. Mà có lúc mở tivi để nghe thêm tiếng nói, tiếng cười, hay người ta hát hò gì đó như có bạn bên mình cho vui thôi, chứ cũng chẳng ngồi coi.

Bà thường lấy ông mặt trời để làm đồng hồ tính thời gian trong ngày, giữa trưa khi ánh nắng chiếu qua khung cửa sổ, là bà nghỉ ngơi, ăn cơm, rồi dựa lưng vào ghế ngắm nhìn cỏ cây, nhìn bầu trời, lặng lẽ hồi tưởng những ngày tháng trôi qua, đói khổ có, vui buồn không thiếu, rồi tự “tích lũy” lại những câu chuyện xưa, để khi mọi người ghé nhà thăm chơi là lúc bà kể lại, ôn lại, rồi cùng vui cười với khách.

Bà Hai thường ra vườn nhổ cỏ và nhặt lá chuối khô.

Đến nay, bà Hai vẫn thích làm vườn, lao động chân tay và rất chăm dọn dẹp nhà cửa, vườn tược, mà không cần sự giúp đỡ của người khác.

Điều đặc biệt là rất ít khi bà ngồi yên, quen sống đơn giản, không muốn phiền con cháu. Mỗi lần gia đình có giỗ chạp, hay dịp lễ, Tết, con cháu đông đủ, bà rất vui mừng, cũng là lúc bà dạy bảo, nhắc nhở con cháu sống thuận hòa hiếu thảo, lương thiện, nhớ và hướng về công đức của ông bà tổ tiên, gặp ai có hoàn cảnh khó khăn thì tùy tâm mà giúp đỡ.

Đến đây, chúng tôi đã hiểu thêm về bà Hai, người phụ nữ của một làng quê “mới lên phố”, rất gần gũi, tình cảm, sẻ chia, yêu ca hát, cùng lối sống đạm bạc, lạc quan đã giúp bà trường thọ và minh mẫn. Đúng là một người xưa nay hiếm ở vùng đất dừa xứ nẫu yêu thương.