QĐND - Một phóng viên văn hóa người Hàn Quốc có nhận xét khá tinh: Rất khó tìm thấy một bữa ăn nào có sự tham dự của ba người đàn ông Việt trở lên mà không có đồ uống là bia hoặc rượu.
Một đốc công người Nhật Bản nhận xét công nhân người Việt Nam (đang làm việc trên đất Nhật) rất hay uống rượu. Mặc dù có quy định cấm ngặt nhưng vẫn không hiểu họ tìm đâu ra rượu để uống.
Một con số đã được nhiều người biết: Mỗi năm người Việt tiêu thụ hơn 3 tỷ lít bia, gần 68 triệu lít rượu!
Một thực tế đang diễn ra: Người Việt ta thích uống và uống nhiều bia, rượu. Các số liệu cho thấy lượng bia, rượu tiêu thụ ở Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc và Nhật Bản. Nếu nếp sống văn hóa Việt xưa “miếng trầu là đầu câu chuyện” thì ngày nay phải là “bia, rượu là đầu câu chuyện”. Người ta vui cũng uống, buồn cũng uống, lên lương uống, về phép uống, lên phép uống… Biết bao nhiêu là lý do để “liên hoan”…Và những việc đại sự như bàn bạc, trao đổi, ký kết hợp đồng cũng ngay trên bàn rượu…!!!
Thói quen uống rượu, bia của người Việt hôm nay có gốc gác từ mặt trái của tục “hương ẩm” trong văn hóa làng xã. Tục này bắt nguồn từ việc người nông dân sau những ngày đoàn kết tương trợ giúp nhau lao động nên muốn cùng nhau chia sẻ thành quả. Người ta thường đợi đến dịp các lễ hội hoặc nhà nào đó có công việc giỗ chạp hoặc cưới xin hoặc cũng có khi tùy hứng nếu điều kiện cho phép. Ban đầu là mục đích cao đẹp để thắt chặt tình cảm cộng đồng nhưng dần dần tục này bị biến tướng thành nạn chè chén “xôi thịt” rất đáng lên án.
Tục hương ẩm trở thành một biểu hiện của văn hóa ứng xử làng xã qua những quy định rất chặt chẽ về ngôi thứ ứng với chỗ ngồi, tức vị trí “mâm trên, mâm dưới” trong bữa ăn cộng đồng ở đình làng. “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”. Những bậc chức sắc, những người cao tuổi hoặc những ai có vị thế nể trọng, được kính ngồi “chiếu trên”. Mặt tích cực là giáo dục con người biết “tôn ti trật tự”, kính trọng người có tuổi, có học… Mặt trái cũng dễ thấy là sinh ra thói tham địa vị, kèn cựa, đố kỵ, “con gà tức nhau tiếng gáy”…
Văn hóa Việt luôn là một quá trình bồi đắp các giá trị tốt và đào thải những gì là tiêu cực, hủ tục. Học giả Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” cho biết: “Đời cổ cấm quần tụ uống rượu, chỉ được uống rượu bốn lần vào dịp cử hành lễ Hương ẩm tửu”. Hầu hết trong các hương ước ngày trước đều có những quy định rất cụ thể để ngăn chặn nạn rượu chè. Ví dụ điều 21 trong Hương ước xã Đan Trang huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) có ghi rõ: “… nơi công cộng say rượu nói càn, cãi chửi, tranh biện rối loạn trật tự, hoặc ở đường ở chợ say rượu… bắt phạt lần đầu là một quan…”.
Còn ngày hôm nay, hình như nước ta chưa có quy định nào cụ thể về việc độ tuổi nào được uống rượu, được phép mua bao nhiêu rượu… như các nước đang phát triển. Ai cũng biết một nguyên nhân của tai nạn giao thông ở nước ta tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán là do bia, rượu.
Gần đây người ta đang tranh luận chung quanh quy định cấm bán rượu sau mười giờ đêm. Có người phản ứng, thế thì mua rượu lúc chín giờ năm chín phút để sau đó uống… Xem ra quy định này cũng còn “chông chênh”, thiếu thực tế lắm!
Tại sao các cơ quan công quyền không quy định: Những ai là đảng viên, những ai là cán bộ quản lý... thì không được uống rượu trong ngày làm việc?
Tại sao không đưa quy định cấm uống rượu say vào phong trào thi đua ở các “làng văn hóa”, “khu phố văn hóa”…?
Tại sao không đưa việc này vào nội dung Học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ. Chính lời Bác Hồ nói với Đảng bộ Nghệ Tĩnh năm 1957 khi Người về thăm quê: “Tỉnh ta có truyền thống và có tiếng là có thuần phong mỹ tục. Chúng ta phải phát triển và giữ gìn những thuần phong mỹ tục đó. Đừng để rượu chè, cờ bạc… lung lay” (Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh, 1977, tr. 56).
Thói rượu chè là mặt trái của văn minh làng xã, đã được coi là “hủ tục”, thế mà nay lại được sống lại, được duy trì và “phát triển”. Chả lẽ chúng ta lại đi ngược lại với tiến bộ xã hội sao!?
NGUYÊN THANH