 |
|
Nhiều nghị sĩ ca trù được tôn vinh. Ảnh: Hồng Thuận |
Giáo sư, tiến sĩ khoa học Tô Ngọc Thanh-Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trong nhiều cuộc gặp gỡ, liên hoan vẫn nhắc những hội viên của mình phải không ngừng chạy đua với thời gian để kịp thời lưu lại những “thư viện quốc gia” về văn hoá dân gian được các nghệ nhân giữ gìn. Song năm nay, trước thực tế sức khoẻ và sự minh mẫn của các nghệ nhân ngày một kém đi, ông đã “nóng ruột” thúc giục: chúng ta không thể chạy đua nữa mà phải chạy nước rút, nếu không sẽ không thể hoàn thành kế hoạch “Tầm nhìn 2010”
“Tầm nhìn 2010” là một kế hoạch do Hội Văn nghệ Dân gian đề ra, động viên các bậc nghệ nhân cho con cháu ghi lại bằng những phương tiện hiện đại những giá trị vẫn tồn tại trong dân gian, đặc biệt là các loại hình văn học truyền miệng nhằm thống kê vốn liếng của cha ông để lại, xây dựng chương trình phát huy giá trị với mục đích sưu tầm, lưu lại được nhiều nhất các giá trị đó, và phát huy chúng ở một mức độ cao nhất.
Việc phát hiện những người đang gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống, trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian là một sự tôn vinh đối với giá trị của loại hình văn nghệ dân gian ấy, và hơn hết là tôn vinh những người đã gìn giữ, phát triển nó cũng là một mục tiêu của “Tầm nhìn 2010”. Nếu như trong buổi lễ tổng kết năm 2006, giáo sư Tô Ngọc Thanh cho rằng đây là một cuộc chạy đua thì năm nay, ông đã chuyển sang từ “nước rút” và nhấn mạnh: chúng ta phải khẩn trương hơn nữa. Năm 2006, Hội công nhận được 9 nghệ nhân dân gian, năm nay chỉ có 4. Số nghệ nhân còn đủ sức khỏe đến dự buổi gặp mặt với Hội cũng đếm trên đầu ngón tay. Hầu hết các cụ đã ở tuổi 80, 90, còn rất ít cụ ở tuổi 60, 70. Chính bởi vậy, Hội càng phải khẩn trương hơn trong giai đoạn nước rút này, để kịp ghi lại, chép lại những bài hát, câu ca, những giai điệu, những cách làm dân gian…trước khi thời gian đưa các cụ đi.
Nghệ nhân ẩm thực Đinh Bá Châu trong buổi lễ được công nhận đã nói: “Mỗi một nghệ nhân dân gian là một hạt giống. Chúng tôi đã sống cả đời với lĩnh vực mà mình được công nhận, đã lưu giữ, truyền dạy, bổ sung, sáng tạo. Nhưng có nhiều nơi, các cụ già còn rất nhiều vốn chưa truyền dạy hết, nay tuổi đã cao không dạy được nữa, sợ sẽ mang theo về bên kia”. Còn cụ Vũ Văn Khoái (1925-nghệ nhân ca trù ở Hà Tây) phải có người dìu đến buổi lễ công nhận nghệ nhân. Cụ tâm sự: “Sống cả đời được gọi là nghệ nhân, bây giờ mới có cái giấy chính thức, phải đến chứ. Tôi già lắm rồi, sợ sang năm không đến được nữa”.
Có lẽ Hội Văn nghệ dân gian đã thực sự bước vào giai đoạn “nước rút”, mỗi Hội viên phải khẩn trương hơn nữa để hoàn thành kế hoạch “Tầm nhìn 2010” đúng hay trước năm 2010, bởi sợ rằng nếu cứ lần lượt từng bước, thì đến năm 2010, biết đâu sẽ lại chẳng thể hoàn thành. Và những công trình sưu tầm, tổng hợp, những chi hội văn nghệ dân gian có tới 3-4 thế hệ trẻ, già tham gia được tặng thưởng năm nay, thực sự là một cuộc nước rút của những người tâm huyết với nghề, đưa “Tầm nhìn 2010” tiến thêm một bước.
Cuộc chạy đua đã thực sự vào giai đoạn nước rút khi năm 2006 chỉ có hơn 40 công trình sưu tầm, tổng hợp, nghiên cứu về văn hoá dân gian, chủ yếu của những tác giả lớn tuổi với những đề tài không thật mới mẻ thì sang năm 2007, Hội Văn nghệ dân gian có tới 83 công trình được đưa vào xét giải và 60 công trình được nhận giải, 8 công trình được tặng thưởng. Các công trình này dù vẫn tập trung chủ yếu về các lĩnh vực ngữ văn và phong tục song đã có nhiều tín hiệu bứt phá, về đề tài, về số lượng, về chất lượng và tác giả.
Về đề tài các công trình, ngoài các đề tài “truyền thống” như các chuyên khảo về một hiện tượng hay một hoạt động nào đó thì đã có những công trình chuyên sâu, mô tả và nghiên cứu rất chi tiết như công trình “Quá trình hôn nhân dân tộc Thái ở Điện Biên” của tác giả Lương Thị Đại dày tới 800 trang vi tính khổ A4, công trình “Phong tục làm chay 7 cờ của dân tộc Mường” của tác giả Bùi Huy Vọng. Mùa giải cũng nhận được những công trình nghiên cứu sâu về một chủ đề cụ thể như “các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng của người Tày ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Yên, “Biểu trưng trong tục ngữ người Việt” của tác giả Nguyễn Văn Nở; “Khái luận về câu đố người Việt” của tác giả Triều Nguyên; hay về một chủ đề phổ quát như “Di sản văn hóa Bắc Giang - về văn hóa phi vật thể” của nhóm tác giả ở chi hội tỉnh Bắc Giang. Ngoài ra còn có các công trình khai thác các đề tài hiếm có hoặc chưa có trước đây như “Văn hóa dân gian dân tộc Ca Dong ở Quảng Ngãi” của tác giả Nguyễn Đăng Vũ, “Văn học dân gian dân tộc Mơ Nông và Ê đê” của tác giả Đỗ Hồng Kỳ, “Văn hóa dân gian dân tộc Hà Nhì” của nữ tác giả Chu Thùy Liên, “Văn hóa phi vật thể Rắc Glây - những gì chúng ta còn ít biết” và “Văn hóa gia tộc Rắc Glây – Góc nhìn từ nghệ nhân” của tác giả Hải Liên, “Câu đố Giơ Rai”-công trình song ngữ của tác giả trẻ Nguyễn Quang Tuệ… Các công trình có giá trị cao về mặt chất lượng khoa học và giá trị phát hiện. Ở đây, hầu hết các tác giả đều muốn đi tìm những hiện tượng, những giá trị di sản văn hoá-văn nghệ dân gian chưa được biết đến hay còn ít được biết đến.
Thành phần tác giả tham dự năm nay cũng có những thay đổi đáng mừng, thực sự là cuộc nước rút của những nhà nghiên cứu lớn tuổi, của các nghệ nhân khi truyền lại và đào tạo được một thế hệ kế tiếp cho mình. Nếu như năm 2006 mới bắt đầu có “tín hiệu” khi xuất hiện một vài tác giả trẻ tham gia thì năm nay, bên cạnh các tác giả cao tuổi 70, 80 “truyền thống” như các cụ Nguyễn Thiên Tứ, Dương Sách, Cao Sơn Hải… đã có nhiều hơn các tác giả trẻ tuổi 40, 50. Công trình của các tác giả lứa tuổi này chiếm gần hết các giải cao, chứng minh sự hình thành một thế hệ gồm các hội viên-nhà nghiên cứu đã bắt đầu đạt đến độ chín muồi về nghề nghiệp. Đặc biệt, trong số tác giả này có khá nhiều anh chị em người các dân tộc thiểu số như chị Lương Thị Đại và anh Lò Xuân Hinh dân tộc Thái, anh Bùi Huy Vọng dân tộc Mường, chị Chu Thùy Liên dân tộc Hà Nhì…
Cuộc chạy nước rút này vẫn chưa đến giai đoạn về đích, như giáo sư Tô Ngọc Thanh nói: phần mà chúng ta lưu lại được vẫn còn rất ít, phải khẩn trương, khẩn trương hơn nữa để làm sao về đích được đúng thời gian, thu được tối đa nhất những loại hình văn học truyền miệng, với chất lượng cao nhất.
THANH HUYỀN