Cả đời bà Tiền ở xóm Nội Tây của tôi, coi cái thuổng, cái giỏ (những dụng cụ đi bắt cáy) là bạn thân của mình. Còn những bờ cồn ngái, bờ cồn khoai lang, bờ cồn dưa hồng ven sông Ninh, được bà coi là cả giang sơn của bà. Bởi vì, những bờ cồn đó là nơi trú ẩn và sinh sôi của những con cáy màu nâu, cái còng lúc trắng, lúc hồng theo mưa nắng.

Có những buổi sớm tinh mơ, người ta chưa ra đồng, bà Tiền đã đeo cái giỏ bên hông, lặn lội bắt cáy bên cồn. Con cáy có trứng thì bà bỏ một bên giỏ, còn không có trứng thì bỏ bên kia. Gặp phiên chợ, bà đem bán cáy tươi luôn. Không gặp phiên chợ thì đem về nhà bỏ vào bồ tha, đợi đến phiên chợ thì đem đi bán. Nếu trời nắng to, bà lật yếm con cáy cạo lấy trứng nhỏ li ti đem phơi khô rồi đóng lọ để nấu canh rau đay, hoặc để bắc mắm ăn dần. Có khi bí tiền, bà đổ cả lọ trứng cáy đem đến chợ bán.

Một hôm, sau khi tôi đi công tác ở biên giới trở về, tôi đã mang một chai rượu ngô biếu bà. Đỡ chai rượu từ tay tôi, rồi bà xởi lởi nói: “Cảm ơn cậu! Gần 80 tuổi rồi, nhưng tôi chưa cần đến viên thuốc tây, chén thuốc bắc. Suốt cả đời, tôi ăn cơm với nước cáy, trứng cáy. Mỗi bữa nhấp thêm một chén rượu nữa. Trời cho tôi sức khỏe, trời còn cho tôi con đàn nhưng số tôi cứ nghèo mãi, vì chỉ có biết trồng lúa, trồng khoai và bắt cáy để sinh nhai thôi”. Khi tôi tạm biệt bà ra về, bà đã dốc ở lọ cho tôi lưng bát trứng cáy.

Đang vào mùa lụt, thức ăn khan hiếm, mẹ tôi đem trứng cáy của bà Tiền cho để nấu canh với rau đay. Không hiểu tại sao, tôi ăn cơm khoai chan canh rau đay nấu với trứng cáy cảm thấy rất ngon miệng. Có lẽ, do bát canh dân dã ấy đã được nấu bằng cả tấm lòng thương yêu con tha thiết của người mẹ hòa lẫn với tấm lòng đơn sơ, mộc mạc mà đằm thắm của người hàng xóm quê hương tôi.

LÃ BÁ TÌNH