Một mũi nhọn của nền công nghiệp văn hóa

Mỹ thuật ứng dụng bao gồm thiết kế đồ họa, thiết kế tạo dáng công nghiệp, thiết kế thời trang, thiết kế nội thất và nghệ thuật trang trí; sản phẩm trên các chất liệu như sơn mài, gốm, sứ, mây tre, chạm khắc vàng, bạc, đồng, gỗ, kim loại, vải, tổng hợp... Các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng có mặt ở mọi nơi, từ sản phẩm nhỏ như ấm trà, bình nước tới ngôi nhà, công trình kiến trúc...; đặc biệt các sản phẩm thủ công mỹ nghệ là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của đất nước.

Mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam ngày càng phát triển, phong phú về mẫu mã, thể hiện khá rõ qua Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc lần thứ 5-năm 2022 vừa tổ chức mới đây tại Hà Nội. Nhiều sản phẩm được các nghệ nhân sáng tạo có tính mỹ thuật cao, như: Tác phẩm “Cổ tự môn” của Lê Duy Đức (Sơn La); “Bình hoa đan tre” của Nguyễn Văn Tĩnh (Hà Nội); bộ nồi, chảo gia dụng có hỗ trợ người khiếm thị của Lưu Như Ngọc (TP Hồ Chí Minh); hộp bạc mạ vàng “Kim long lưu bảo” của Quách Phan Tuấn Anh (Hà Nội); bộ sưu tập thời trang lân của Hoàng Thị Thu Trang (Hà Nội); tác phẩm “Mộng Nhật Bình” của Huỳnh Minh Thanh (Huế)... Nhiều sản phẩm vừa mới đem đến không gian trưng bày đã có khách hàng đặt mua.

leftcenterrightdel
    

 Công chúng tham quan sản phẩm tại Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc lần thứ 5-năm 2022.

Do góp mặt trong nhiều lĩnh vực, ngành hàng nên khó thống kê hết doanh thu của mỹ thuật ứng dụng mang lại. Theo thống kê của riêng hàng thủ công mỹ nghệ do Bộ Công Thương công bố đạt 2,23 tỷ USD (năm 2019) và giai đoạn 2015-2019 tăng trung bình 9,5%/năm. Điều đó cho thấy mỹ thuật ứng dụng là một trong những mũi nhọn của nền công nghiệp văn hóa.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh chia sẻ: “Những mặt hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta được khách hàng thế giới đánh giá cao phần lớn là các sản phẩm có sự sáng tạo, chế tác, ứng dụng mỹ thuật, kỹ thuật mới. Ví dụ, với sản phẩm mây tre đan, khách hàng không thích những vật dụng thông thường như chiếc rổ, giỏ, bình, họ chọn những tác phẩm décor như đèn, đàn, tranh... được đan bằng kỹ thuật truyền thống, có họa tiết, hình ảnh, hoa văn đặc trưng của người Việt Nam. Vì thế, thời gian trước dịch Covid-19, thu nhập của gia đình tôi đạt 5-6 tỷ đồng/năm. Khi tình hình xuất khẩu chững lại gia đình tôi đã tăng cường sản xuất các mặt hàng truyền thống được khách trong nước ưa chuộng nên doanh thu không giảm sút quá nhiều”.

Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Lương Xuân Đoàn cho biết: “Khi cuộc sống ngày càng khấm khá hơn, con người ngoài hướng tới các sản phẩm tiêu dùng có công năng tốt, còn hướng tới vẻ đẹp, yếu tố văn hóa và giá trị thẩm mỹ. Việc bảo đảm giữa công năng và giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa đang đặt ra những đòi hỏi cho ngành mỹ thuật ứng dụng có nhiều hơn tác phẩm, sản phẩm, mẫu mã đẹp, chuyên nghiệp trong các khâu quảng bá, giới thiệu sản phẩm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của đời sống và xuất, nhập khẩu”.

Đào tạo nhân lực bảo đảm chất lượng gắn với nhu cầu xã hội

Cả nước hiện có hơn 80 cơ sở có đào tạo các ngành mỹ thuật. Mỗi năm có khoảng 9.000 sinh viên ra trường, trong đó, phần lớn thuộc lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng. Tuy nhiên, nguồn nhân lực sáng tạo dồi dào này đến nay vẫn chưa được tận dụng triệt để. Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, việc đào tạo nguồn lực mỹ thuật ứng dụng sau một thời gian vận hành đang bộc lộ những điểm yếu.

Đơn cử như lĩnh vực thiết kế đồ họa, công tác đào tạo đang dần thiếu những định hướng chuyên nghiệp và có xu hướng phát triển đại trà. Các chuyên gia đánh giá, bên cạnh sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong đào tạo mỹ thuật ứng dụng nói chung và thiết kế đồ họa nói riêng, đang nảy sinh những hạn chế. Đó là việc sinh viên còn bị lệ thuộc quá nhiều vào các phần mềm, xem đó là mục tiêu cần phải đạt được để xin việc làm. Không ít sinh viên chỉ mới làm quen và biết sử dụng phần mềm ở trình độ cơ bản, chưa thuần thục các kỹ năng ứng dụng vi tính nhưng đã nóng vội vận dụng vào đồ án của mình dẫn đến hạn chế trong tìm ý tưởng và thể hiện.

Không chỉ đào tạo lộ rõ những yếu kém, mà việc tuyển sinh, quan niệm về mỹ thuật ứng dụng hiện nay vẫn chưa được coi trọng. Trong khi ở các quốc gia phát triển, mỹ thuật ứng dụng được coi là ngành kinh tế tri thức và chú trọng đầu tư thì ở trong nước, họa sĩ thường được chú ý nhiều hơn nhà thiết kế mỹ thuật. Nhiều nghệ sĩ tạo hình tham gia các hoạt động mỹ thuật ứng dụng để nuôi nghề chính là hội họa.

Có thể thấy, mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam đang thừa nguồn nhân lực nhưng lại thiếu thợ lành nghề cũng như môi trường để kích cầu phát triển. Nguyên nhân chính là mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm mỹ thuật ứng dụng thiếu sự kết nối, hỗ trợ cần thiết. Đáng nói là, các nhà thiết kế mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam vẫn đang sáng tạo một cách bị động. Nếu ở nước ngoài, nhà thiết kế có kho tư liệu, hình ảnh riêng để tham khảo thì ở Việt Nam phải tự thân vận động. Do đó, khi doanh nghiệp đặt hàng thiết kế sản phẩm với thời gian gấp, nhà thiết kế phải đẩy nhanh quá trình hoàn thiện mà không có điều kiện đi thực tế tìm hiểu kỹ rồi mới đưa vào sản phẩm thuần Việt. 

Nguyên phó hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Ngô Anh Cơ cho biết: “Lâu nay sinh viên của nhà trường sau khi tốt nghiệp khá “đắt hàng”, thậm chí nhiều người đang trong quá trình học tập đã có doanh nghiệp đến tìm. Tuy nhiên, sự quan tâm ấy của phần lớn doanh nghiệp vẫn chỉ dừng ở mức độ giải pháp tình thế, “lấy ngắn, nuôi dài”, mà thiếu đầu tư dài hạn”.

Để khắc phục tình trạng này, ngành mỹ thuật ứng dụng đang rất cần có sự đồng hành giữa nhà quản lý, nhà làm chính sách, nhà sản xuất và họa sĩ, nhà thiết kế. Ở góc độ đào tạo cần bảo đảm đầu ra bền vững cho sinh viên cũng như ý thức về vai trò của mỹ thuật ứng dụng trong các doanh nghiệp. Từ đó mới có thể thúc đẩy được nguồn nhân lực nói riêng cũng như sự phát triển của mỹ thuật ứng dụng nói chung. 

Bài và ảnh: HƯƠNG SEN