Tôi còn nhớ, trước đây ở chợ làng có chị ngồi bán xôi xéo bên cạnh con chó đá. Mở hàng buổi sớm, chị cho một nắm xôi “đấm môi đấm mỏ” chó đá như người ta nựng con trẻ. Hôm nào hột nếp dính miệng chó đá là hàng xôi đắt như tôm tươi. Người mê tín thì bảo chó đá phù hộ, người tinh thì biết do xôi vừa dẻo vừa ngon.

Bấy lâu tôi cứ ngỡ người ta thờ chó đá nôm na như vậy, mãi sau mới biết ở nhiều nơi còn thờ chó đá như một vị “thượng đẳng thần”. Như ở làng Địch Vĩ (Đan Phượng, Hà Nội) chó đá được tôn làm Thành hoàng làng, có tên chữ là “quan lớn Hoàng Thạch”; hay như ở hồ Trúc Bạch (Hà Nội) cũng có ngôi đền thờ chó thần có tên là đền Cẩu Nhi; ngoài ra, trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có tục thờ chó.

Tiến sĩ Trần Hậu Yên Thế (Viện Mỹ thuật Việt Nam) cho biết, tục thờ chó có từ rất lâu đời, gắn với văn hóa cổ của nhiều dân tộc châu Á. Ở Việt Nam, hình tượng chó với tư cách là một vị thần cũng xuất hiện từ thời Đông Sơn. Nhiều người có sự nhầm lẫn cho rằng, hình tượng con nghê chính là phát triển từ hình ảnh con chó. Thực tế không phải vậy, đây là hai loại linh thú khác nhau. Trong tín ngưỡng tâm linh, chó đứng cao hơn nghê một bậc. Nghê là chỉ hiệu của cõi thiêng, trong khi chó lại được thờ như "thượng đẳng thần". Trong dân gian cũng có câu: Chó trực nghê chầu. Trực ở đây được hiểu là trực ban, trực gác, trông nom, chó đóng vai trò của một vị thần bảo vệ. Bên cạnh đó, chó cũng là con vật gần gũi, được con người thuần hóa, nuôi dưỡng nên tính thiêng được dân gian làm giảm bớt. Trong tư liệu chính thống của các triều đại xưa, việc thờ chó không được ghi chép cụ thể, song tục thờ chó vẫn tồn tại trong dân gian và chưa hề dứt đoạn. Những nghi lễ, cầu cúng đơn giản, tượng thờ chó được đặt để trên mô đất, trước cửa; người lớn có thể xoa đầu, sờ mõm, trẻ con có thể giật tai, cưỡi lưng. Tóm lại, chó là một “vị thần” vừa thiêng liêng vừa gần gũi với người dân.

Ở Việt Nam ta, những năm vừa qua với làn sóng “xâm thực” của những linh vật ngoại lai, chó đá bị đẩy ra khỏi nhiều chốn thiêng. Thay thế chó đá là tì hưu, sư tử đá, cá biệt có nơi còn bày cả những con chó béc-giê bằng sứ làm theo hình mẫu tượng trang trí của phương Tây. Điều này thể hiện sự thiếu hiểu biết về truyền thống văn hóa của cha ông, cũng như thị hiếu lai căng, vọng ngoại của một bộ phận dân cư. Cũng may, làn sóng này đến nay cơ bản chấm dứt, nhiều linh vật ngoại lai bị đưa ra khỏi chốn thiêng, nhiều làng nghề bắt đầu trở lại với việc đục chó đá.

Làng tôi đã thành phường nội thành Hà Nội, cái tên “làng 4 chó đá” lâu rồi không ai nhắc. Chị hàng xôi cũng đã mở một nhà hàng to ngoài mặt phố. Làng mở rộng to đẹp cùng với sự phát triển của đất nước. Xuân về thắp nén hương thơm tưởng nhớ thành hoàng làng, xoa đầu mấy “ông” chó đá trước cổng đình, chợt thấy xao lòng, yêu mến làng thiết tha!

NGUYÊN PHONG