Gian nan đưa di sản “hồi hương”

Cuối năm 2022, khi ấn vàng Hoàng đế chi bảo xuất hiện tại nhà đấu giá Millon (Pháp), dư luận trong nước dõi theo từng diễn biến với nhiều lo lắng. Bảo vật nặng hơn 10kg, đúc năm 1823, phải trải qua gần một năm đàm phán và nhiều lần hoãn đấu giá để tránh bị đẩy giá hoặc rơi vào tay nhà sưu tập khác. Cuối cùng, nhà sưu tầm cổ vật Nguyễn Thế Hồng đã chi khoảng 6,1 triệu euro để đưa ấn vàng hồi hương.

Sự trở về của ấn vàng Hoàng đế chi bảo là một dấu mốc đáng nhớ, đồng thời cho thấy một thực tế trong nhiều năm, việc đưa cổ vật về nước phụ thuộc đáng kể vào nguồn lực của doanh nghiệp, nhà sưu tập và các mạnh thường quân, trong khi Nhà nước chưa có cơ chế đủ chủ động để tham gia.

Lễ chuyển giao ấn vàng Hoàng đế chi bảo tại Đại sứ quán Việt Nam ở Pháp năm 2023. Ảnh: Cục Di sản văn hóa cung cấp 

Không riêng ấn vàng Hoàng đế chi bảo, các cuộc hồi hương cổ vật Việt Nam thường gặp nhiều rào cản. Quá trình này gặp khó do thiếu hành lang pháp lý đồng bộ, vướng mắc về thuế nhập khẩu và cơ chế tài chính. Cổ vật trở về chủ yếu thông qua hiến tặng hoặc đấu giá với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong nước. Việt Nam cũng chưa có nhiều tiền lệ về những hoạt động ngoại giao văn hóa quy mô lớn để đưa di sản trở về. Năm 2024, tượng nữ thần Durga, pho tượng cổ có nguồn gốc Việt Nam, được hồi hương thành công từ Vương quốc Anh. Trường hợp này cho thấy việc đưa cổ vật trở về là khả thi khi có sự phối hợp, đàm phán và thiện chí của các bên. Tuy nhiên, khi chưa có một cơ chế thống nhất, mỗi cuộc hồi hương vẫn phải tìm cách tháo gỡ những khó khăn riêng.

Mỗi cổ vật là một chứng tích lịch sử, gắn với những giá trị văn hóa và ký ức của dân tộc. Việc đưa cổ vật trở về vì thế không đơn thuần là một giao dịch mua bán mà còn góp phần khôi phục tính toàn vẹn của di sản, tạo điều kiện cho công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị.

Thượng tọa Thích Đức Thiện, Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần xây dựng một chiến lược dài hạn để hồi hương các di vật, cổ vật có nguồn gốc Việt Nam đang ở nước ngoài. Việc đưa hiện vật trở về góp phần gìn giữ ký ức lịch sử, khôi phục tính toàn vẹn của di sản và bồi đắp bản sắc văn hóa dân tộc. 

Gỡ điểm nghẽn, chủ động đưa di sản trở về

Điểm mới của Nghị định số 282/2026/NĐ-CP là lần đầu tiên quy định cơ chế Nhà nước sử dụng ngân sách để mua, đấu giá và đưa bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài về nước. Theo Điều 23, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) xác định hiện vật đủ điều kiện, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chủ trương, sau đó phối hợp với Bộ Tài chính cấp kinh phí thực hiện.

Hồ sơ phải chứng minh nguồn gốc, giá trị của hiện vật và dự toán đầy đủ các khoản chi từ mua, đấu giá đến vận chuyển, bảo quản. Điểm đáng chú ý của quy định này là tạo cơ sở để Nhà nước chủ động tham gia vào quá trình hồi hương, nhất là trong những trường hợp cổ vật xuất hiện tại các cuộc đấu giá hoặc phát sinh giao dịch trong thời gian ngắn.

Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL) Lê Thị Thu Hiền đánh giá đây là một quy định có tính đột phá. Nếu thực hiện theo quy định thông thường của pháp luật ngân sách, cơ quan quản lý phải xác định trước danh mục cổ vật cần mua, xây dựng kế hoạch, xin ngân sách và chờ cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong khi đó, nhiều cổ vật được phát hiện ở nước ngoài được đưa ra đấu giá hoặc phát sinh giao dịch chuyển nhượng trong thời gian rất ngắn. Nếu phải thực hiện đầy đủ quy trình ngân sách, Việt Nam rất dễ bỏ lỡ cơ hội.

Với cơ chế mới, sau khi Bộ VHTTDL xác định hiện vật có giá trị đặc biệt, tiêu biểu và quý hiếm, Bộ có thể xin chủ trương của Thủ tướng Chính phủ. Khi được chấp thuận, Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn cấp kinh phí để triển khai. Đây là cơ chế có tính khả thi và hiệu quả, tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ bảo tồn các giá trị di sản văn hóa của dân tộc đang ở nước ngoài và đưa về nước. Như vậy, điểm mới của Điều 23 không chỉ là bổ sung cơ chế tài chính mà còn tạo điều kiện để cơ quan quản lý có thể hành động kịp thời trước những cơ hội hồi hương có tính thời điểm. Đây là thay đổi quan trọng so với cách xử lý phụ thuộc nhiều vào nguồn lực xã hội và từng trường hợp cụ thể trước đây.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng Điều 23 Nghị định 282 không chỉ bổ sung một quy định về tài chính mà còn thể hiện bước chuyển trong tư duy phát triển văn hóa. Khi Nhà nước có cơ chế chủ động đưa cổ vật hồi hương, di sản được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển và một thành tố của sức mạnh mềm quốc gia. Mỗi bảo vật trở về góp phần làm giàu thêm các bộ sưu tập quốc gia, đồng thời khẳng định chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

Hồi hương cổ vật cũng là xu hướng được nhiều quốc gia theo đuổi trong nhiều năm. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, phía sau mỗi cuộc hồi hương thành công là sự kết hợp giữa quyết tâm chính trị, hành lang pháp lý, nguồn lực tài chính và hợp tác quốc tế. Với Việt Nam, Nghị định 282 đã tháo gỡ một trong những điểm nghẽn quan trọng là cơ chế tài chính.

Để chính sách phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về thuế, xây dựng cơ sở dữ liệu về cổ vật Việt Nam ở nước ngoài, thiết lập mạng lưới hợp tác với các bảo tàng, nhà đấu giá và cộng đồng người Việt trên thế giới, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, quỹ bảo tồn và các nhà sưu tập.

Bộ VHTTDL đang xây dựng Đề án hồi hương cổ vật, dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 10-2026. Đề án nhằm đánh giá thực trạng di vật, cổ vật có nguồn gốc Việt Nam đang ở nước ngoài, xác định mức độ thất thoát và đề xuất cơ chế đưa các hiện vật có giá trị về nước. Các giải pháp gồm bố trí ngân sách nhà nước, huy động Quỹ bảo tồn di sản văn hóa, phát huy vai trò cơ quan ngoại giao và hợp tác quốc tế.