Đã mấy năm liền, Đại úy Dương, cán bộ phụ trách công tác hậu cần của Tiểu đoàn 1 không về quê nhãn lồng Hưng Yên vui xuân, đón Tết cùng gia đình. Ấy là do mức ăn của bộ đội ngày càng
 |
|
Sơ chế trám trước khi đưa vào muối. |
được cải thiện thì yêu cầu chế biến món ăn cũng ngày càng cao. Anh phải ở lại chỉ đạo, tổ chức sao cho trong điều kiện giá cả “
leo thang”, chỉ từng ấy tiền mà bộ đội được ăn cỗ Tết ngon miệng, bảo đảm dinh dưỡng, vệ sinh. Đặc biệt là còn phải lo tham gia thi cỗ với các tiểu đoàn khác.
“Thì em lên với anh!”. Nghe người vợ mới cưới nói thế, Đại úy Dương vui mừng, xúc động…
Năm trước, cô giáo An tới đơn vị của chồng vào đúng 10 giờ ngày 30 Tết. Cô liền được Ban chỉ huy mời dự Lễ tổng kết thi cỗ truyền thống của trung đoàn, “trước là nhiệm vụ, sau là liên hoan” đón chào xuân mới. Là con dâu trưởng, lại thích nấu ăn, nên cô An rất chăm chú nghe thủ trưởng đánh giá kết quả cuộc thi. Thủ trưởng nói: “Chỉ huy trung đoàn đã thống nhất, cỗ Tết năm tới, ngoài các món cơ bản, phải có một món phụ với chủ đề: NHỚ TẾT CHIẾN KHU XƯA. Chủ đề này hàm chứa sắc thái văn hóa lịch sử dân tộc. Vì vậy cho phép kết nghĩa quân dân trong việc chuẩn bị”. Nghe thấy thế, trong tâm trí cô An bỗng hiện về một câu chuyện. Hồi ấy cô đang học lớp 12, khi đọc câu thơ của Tố Hữu: “Mình về rừng núi nhớ ai/ Trám bùi để rụng, măng mai để già”, e rằng tự mình không hiểu hết ý thơ, cô liền tìm đến ông cụ Bắc, nguyên là anh nuôi bộ đội đóng quân ở Thái Nguyên những năm 1950-1952, nhà ở đầu làng, để hỏi thêm. Và cô đã được cụ Bắc kể cho nghe vô vàn những chuyện về tình người ở chiến khu xưa, trong đó có chuyện về món trám muối…
Thủ trưởng đã nói xong. Toàn đơn vị vỗ tay nhiệt liệt. Cô giáo An liếc đôi mắt biếc nhìn người chồng ngồi bên cạnh, tủm tỉm cười…
Cuối dịp nghỉ hè, đúng kỳ quả trám mọng mẩy, cô An lên tận vùng Tiên Du (Bắc Ninh) mua 10kg trám nếp mỡ. Mọi người hỏi, cô bảo để dùng dần. Thế rồi, những hũ trám muối được bảo quản cẩn thận, cất kỹ trong tủ bếp. Cho đến sáng 28 Tết, cô thưa chuyện với bố mẹ chồng, xin để lại một hũ, mời toàn gia đình thưởng thức. Còn hai hũ, cô mang lên “làm quà cho anh em trên đơn vị nhà con”.
Thế là, bên cạnh các món “cơ bản” đã được những bàn tay chiến sĩ chế biến, mâm cỗ Tết của Tiểu đoàn 1 năm nay còn có những quả trám bổ đôi bỏ hạt, màu sẫm, nằm duôi duôi trên đĩa gốm Bát Tràng, tạo cảm giác ấm áp. Đưa miếng trám vào miệng, cắn nhẹ đánh “sật”. Lại kèm theo nhánh ngổ, vị chua, chát thanh thanh của trám muối hòa lẫn vị nước mắm, ngấm trong từng thớ trám 6-7 tháng trời, như quen, như lạ, quyện với vị đắng cũng thanh thanh của rau ngổ tươi… Miệng ăn trám muối, tai nghe người muối trám kể chuyện cái duyên của trám trong tình quân dân cá nước những ngày “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” chờ giặc tới, bâng khuâng hình dung nhành hoa mận vương trên lưới mũ nan, đậu trên vai áo trấn thủ trong lãng đãng khói sương giữa chiều xuân chiến khu Việt Bắc… Chính cái sự “Bâng khuâng… một chiều xuân chiến khu Việt Bắc” ấy đã đưa cỗ Tết của Tiểu đoàn 1 lên hạng nhất.
Ngay sáng mùng 3, đầu xuân khai bút, trung đoàn triệu tập các anh nuôi trưởng dự lớp tập huấn làm trám muối do “Dương đại úy phu nhân” hướng dẫn. Mùa xuân xôn xao trong lòng, cô An hồ hởi truyền đạt tỉ mỉ đến các chiến sĩ cách làm trám muối mà cô học được từ ông cụ Bắc-người chiến sĩ nuôi quân năm xưa. Trám muối trên mâm cỗ Tết và bài học hậu cần đầu xuân… Chao ôi! “Nhớ ai, trám bùi để rụng…”.
Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG