QĐND - TS Khổng Đức Thiêm (nguyên nghiên cứu viên cao cấp của Viện Lịch sử Đảng thuộc Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) có nhiều công trình khoa học về văn hóa và lịch sử, tiếp chúng tôi tại nhà riêng. Ông mời chúng tôi ngồi đối diện qua chiếc bàn bày giữa phòng khách. Khoảng cách đấy sớm bị xóa nhòa bởi chất giọng thân tình và những cử chỉ đầm ấm, dung dị của người chủ nhà đáng kính. Là một người nghiên cứu lịch sử nên TS Khổng Đức Thiêm thường đưa “đối tượng nghiên cứu” về điểm khởi nguyên. Cách làm này khiến nhiều vấn đề rối rắm, phức tạp trở nên trong sáng, dễ hiểu. Câu chuyện về văn hóa Bộ độ Cụ Hồ cũng bắt đầu như vậy.

Tiến sĩ Khổng Đức Thiêm.

TS Khổng Đức Thiêm kể: “Những ấn tượng đầu tiên của tôi về Bộ đội Cụ Hồ có từ những năm lên bảy, lên tám. Đó là thời gian gia đình tôi từ Bắc Giang “tiêu thổ kháng chiến” tản cư lên vùng Yên Thế”.

Trước năm 1954, cậu bé Khổng Đức Thiêm bắt đầu chứng kiến những cuộc hành quân lớn của bộ đội từ Bắc Giang hướng lên vùng Tây Bắc. Ấn tượng đầu tiên về anh Bộ đội Cụ Hồ bắt nguồn từ những bài thơ, ca, hò, vè, rồi biến thành lòng biết ơn, cảm kích. Có một kỷ niệm đáng nhớ thời thơ ấu, đó là trước Chiến dịch Điện Biên Phủ, ta nhận định địch có thể nhảy dù xuống vùng hậu cứ, đánh phá vùng tự do, gia đình Khổng Đức Thiêm cũng chuẩn bị rào làng kháng chiến, chuẩn bị đánh giặc. Ấn tượng về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trở nên sâu sắc.         

Đến sau này khi đã vào trung học, Khổng Đức Thiêm có thêm nỗi day dứt vì không thể nhập ngũ do đôi mắt cận nặng. Nhìn những người bạn cùng trang lứa viết đơn tình nguyện nhập ngũ bằng máu, lại có người khai thêm tuổi, có người đeo thêm đá cho đủ cân để được nhập ngũ.., sự quý trọng những người bạn đã trở thành Bộ đội Cụ Hồ từ đó càng thêm hun đúc trong lòng.

Tôi hỏi ông về dấu ấn văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ, ông nói: “Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh, điều kiện hết sức đặc biệt. Đảng bắt đầu đến độ trưởng thành, thời cơ cách mạng đã chín. Đảng cho ra đời Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chỉ sau một thời gian ngắn đã gắn với nhiều chiến công. Trong đội quân đó, mỗi người xuất thân tuy có khác nhau, người từ nông thôn, người từ thành thị, có trình độ học vấn, gia cảnh và nhận thức khác nhau nhưng đều có điểm chung là họ ra đi với tinh thần yêu nước. Những điều đó đã tạo nên nét gần gũi, thân thương và tạo nên sức mạnh to lớn cho những bước trưởng thành của quân đội sau này.

Cùng với chiến công thì cái hồn hậu, trong sáng của anh bộ đội những năm đầu kháng chiến đã tạo nên sự yêu mến, quý trọng của nhân dân. Đấy là hai lý do chính yếu nhất tạo nên văn hóa Bộ đội Cụ Hồ.

Những hình ảnh tốt đẹp từ những ngày đầu kháng chiến của bộ đội được gìn giữ trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bây giờ, tôi nghĩ quân đội ta vẫn giữ được bản chất Bộ đội Cụ Hồ, bởi tôi vẫn thấy ở đó đức hy sinh, sự giản dị, trong sáng. Trong thời bình, điều kiện cuộc sống thay đổi nhiều, nhưng vẫn có những con người lặng lẽ cống hiến nơi biên cương, hải đảo, xa gia đình, cha mẹ, thèm tình cảm đất liền, thèm nghe tiếng trẻ thơ...".

Trên bãi tập Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 (Quân khu 1). Ảnh: Minh Trường

Tôi hỏi: “Theo ông, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ có nét nào nổi bật? Những nét mà ông thích nhất?”. TS Khổng Đức Thiêm suy nghĩ rồi nói: “Đó là tính nhân đạo và nhân văn”.

Ông giải thích rằng, hai nét văn hóa đó không phải quân đội nước nào cũng để lại được. Vì đã gọi là bộ đội thì phải có đối tượng tác chiến. Đã có đối tượng tác chiến thì mình phải làm mọi cách để tiêu diệt chúng và chiến thắng. Nhưng từ trước tới nay, nói về Bộ đội Cụ Hồ, ngoài tấm lòng vì dân, vì nước, người ta còn nghĩ đến tính nhân đạo đối với kẻ thù. Nhân đạo là truyền thống của dân tộc, được thấm nhuần trong Bộ đội Cụ Hồ. Chẳng hạn cuộc khởi nghĩa Yên Thế, ngay từ đầu cuộc chiến, người Pháp đã phải nghiêng mình khâm phục trước tính nhân đạo của nghĩa quân. Cuộc chiến đang bùng lên dữ dội như vậy nhưng nghĩa quân sẵn sàng ngừng bắn để người Pháp đến mang xác đồng đội về. Nếu cần làm mất sức chiến đấu của địch, đôi khi chỉ bắn bị thương... Vấn đề nhân văn cũng vậy, anh bộ đội đã thông minh, bén nhạy, biết sử dụng và cải tiến có hiệu quả vũ khí của phương Tây, của địch để qua đó nhanh chóng kết thúc trận đánh, kết thúc chiến tranh, tránh đổ máu vô ích.

Trò chuyện cùng TS Khổng Đức Thiêm, nghe ông nói về văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, lòng tôi đầy tự hào xen lẫn trách nhiệm quân nhân. Tôi hỏi: “Thưa ông, gần đây có một số luận điệu nói rằng, đã là quân đội phải là quân đội của Nhà nước, trung lập, tại sao lại cứ phải gắn quân đội với Đảng, với Cụ Hồ, ông nghĩ sao?".

Hình như tôi khơi đúng mạch, TS Thiêm trả lời không do dự: “Trước hết, bất kỳ một lực lượng vũ trang nào, công cụ chuyên chính nào cũng phải phục vụ một giai cấp nhất định. Đó là quy luật rồi. Mặc dù người ta cố tình muốn xóa nhòa đi nhưng bản chất giai cấp của quân đội không thay đổi. Nhân dân sinh ra quân đội, Đảng tổ chức và giáo dục quân đội ta để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ những gì Đảng và nhân dân giành được. Không có lý gì quân đội không trung thành với người khai sinh ra mình. Ngày nay, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và cả trong nước, quân đội càng cần nhận rõ nhiệm vụ chính trị của mình. Đại hội XI của Đảng xác định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt. Vì vậy, để giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, các cán bộ, chiến sĩ trong quân đội hiện nay phải không ngừng học tập chính trị, quân sự, rèn luyện bản lĩnh, ý chí chiến đấu...".

 Vâng, tôi thầm cảm ơn ông, không chỉ về bài báo sẽ hoàn thành, mà về tình cảm và lòng tin nơi ông với quân đội, với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân mình.

Bài và ảnh: LÊ ĐÔNG HÀ