QĐND - Thơ viết về liệt sĩ là phần thi ca xúc động nhất, đặc sắc nhất ở Việt Nam trong bảy mươi năm qua. Đã đọc nhiều lần những bài thơ về liệt sĩ mà vẫn cứ như mới đọc lần đầu, nỗi đau thương, niềm tự hào còn nguyên vẹn. Càng đọc, tôi càng thấm thía những câu thơ của nữ thi sĩ người Nga Olga Berggonltz viết từ Chiến tranh Thế giới lần thứ hai: Chiến thắng mang gương mặt khổ đau cùng cực-Không ai bị lãng quên và không điều gì bị quên lãng.
Có thể xem mỗi bài thơ là một nén tâm hương dâng lên các anh hùng liệt sĩ, đầy chất tưởng niệm bi tráng, đau thương nhưng không ủy mị; tự hào mà vẫn lắng sâu. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, điều đó đã được thể hiện trong bài thơ "Viếng bạn" của Hoàng Lộc. Xót thương đồng đội Khóc anh không nước mắt,/ Mà lòng đau như thắt,/ Gọi anh chửa thành lời/ Mà hàm răng dính chặt nhưng nỗi đau ấy đã biến thành hành động yêu nước Mai mốt bên cửa rừng/ Anh có nghe súng nổ/ Là chúng tôi đang cố/ Tiêu diệt kẻ thù chung.
Trong muôn vàn gian khổ, người lính vẫn can trường vượt qua, vẫn dào dạt yêu đời và sẵn sàng dâng hiến, hy sinh vì Tổ quốc: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm/ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm/ Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu, anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ("Tây Tiến"-Quang Dũng).
Thơ Chính Hữu vừa cụ thể vừa khái quát, nói về giá trị hy sinh của đồng đội trên chiến trường khốc liệt, những Lò Văn Sự, Nguyễn Đình Ba... thi sĩ viết: Khi bạn ta/ lấy thân mình/ đo bước/ Chiến hào đi/ Ta mới hiểu/ giá từng thước đất (Giá từng thước đất)...
Dù ra đời sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bài thơ "Núi Đôi" của Vũ Cao vẫn là một khắc tạc bi tráng trữ tình về thế hệ trẻ Việt Nam. Câu chuyện tình yêu trong "Núi Đôi" đã lay động hàng triệu trái tim của nhiều lớp người Việt Nam. Tình yêu đôi lứa càng đẹp đẽ trong sáng bao nhiêu thì sự hy sinh của cô gái du kích càng cao cả lung linh bấy nhiêu. Dẫu nỗi đau vô cùng lớn Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em nhưng niềm tự hào vẫn vang vọng mãi: Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ dài lâu hơn và vô cùng ác liệt. Năm 1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc nhưng nửa nước phía Nam vẫn còn sống trong cảnh kìm kẹp, máu chảy đầu rơi. Chiến tranh vẫn chưa một phút ngưng ở phía nam Vĩ tuyến 17 và đến năm 1964 lan ra cả nước. Nói như Tố Hữu thì máu đọng chưa khô máu lại đầy, cả nước bước vào cuộc trường chinh mới với nhiều thử thách nghiệt ngã tưởng chừng khó vượt qua và muôn vàn hy sinh không kể xiết.
"Quê hương" của Giang Nam lay động hàng triệu trái tim từ khi đất nước mới chia đôi: Hôm nay nhận được tin em/ Không tin được dù đó là sự thật/ Giặc giết em rồi, quăng mất xác/ Chỉ vì em là du kích, em ơi!/ Đau xé lòng anh, chết nửa con người.
Thơ về liệt sĩ thời này có một đặc điểm chung dễ thấy là chất anh hùng luôn được tô đậm, đề cao. Khí phách lẫm liệt của các liệt sĩ xuất hiện ở không ít bài thơ như "Hãy nhớ lấy lời tôi" của Tố Hữu: Anh bước lên, nhức nhối chân đau,/ Dáng hiên ngang vẫn ngẩng cao đầu/ Quần áo trắng một màu tinh khiết/ Thân gầy yếu mạnh hơn cái chết..., như "Nấm mộ và cây trầm" của Nguyễn Đức Mậu: “Chết-Hy sinh cho Tổ quốc” Hùng ơi/ Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất/ Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc/ Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng..., như "Dáng đứng Việt Nam" của Lê Anh Xuân: Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt/ Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng...
Trong những bài thơ viết về liệt sĩ xuất hiện ở thời kỳ chống Mỹ, tôi ấn tượng nhất với bài thơ "Khoảng trời hố bom" của Lâm Thị Mỹ Dạ. Chất nhân văn cũng như nỗi niềm chân thực rung rinh trong từng thi ảnh, từng câu chữ, nhịp điệu thơ. Nó bớt đi hay không còn nữa sự gồng cứng trong một số bài thơ ta hay gặp thời đó. Lâm Thị Mỹ Dạ viết: Em nằm dưới đất sâu/ Như khoảng trời đã nằm yên trong đất/ Đêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng/ Những vì sao ngời chói, lung linh/ Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong/ Đã hóa thành những làn mây trắng? Và ban ngày khoảng trời ngập nắng/ Đi qua khoảng trời em/ Vầng dương thao thức...
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, nhiều bài thơ về liệt sĩ ra đời với nỗi đau thương thăm thẳm, sự hồi tưởng day trở khôn nguôi về một thời bi tráng khốc liệt. Các bài thơ ấy theo dấu chân những người đi tìm đồng đội, theo thân nhân của liệt sĩ đến các nghĩa trang. Xúc động đến quặn lòng là cảm xúc rõ nhất, sâu nhất khi đọc những bài thơ tri ân như thế. Yếu tố thực hòa trộn với yếu tố ảo, chất đời thường quyện chặt với tâm linh.
Có những câu thơ bình dị mà găm sâu vào tâm hồn bạn đọc nhiều lứa tuổi. Hữu Thỉnh trong "Phan Thiết có anh tôi" nhiều thổn thức, ngậm ngùi: Không nằm trong nghĩa trang/ Anh ở với đồi anh xanh cỏ/ Cỏ ở đây thành nhang khói của nhà mình/ Đồi ở đây cũng là con của mẹ/ Lo liệu trong nhà dồn xuống vai em...
Dương Kỳ Anh nhắc lại kỷ niệm về người em trai liệt sĩ của mình với những hình ảnh rất thật: Mười bảy tuổi em lên đường/ Chưa hề nắm tay một người con gái/ Lá đơn tình nguyện em viết bằng máu của chính mình chích từ đầu ngón tay/ Những ngón tay gầy đen đúa./ Buổi tối đi ngủ em xoa bàn chân đất vào nùn rơm/ Bát cơm trộn khoai em xẻ anh một nửa... (Bài thơ người đi tìm phần mộ em trai mình).
Chúng ta vẫn hằng tin rằng, người hy sinh vẫn mang trong mình những khát vọng đẹp đẽ của cuộc sống. Không gì cao sang cả, chỉ là mong muốn quê hương đất nước được bình yên, nhân dân có cơm ăn áo mặc và những người phụ nữ Việt Nam được sống hạnh phúc dưới mái nhà của mình. Rất nhiều cô gái không còn được hưởng hạnh phúc ấy, dù chỉ là một chậu nước bồ kết gội đầu. Chính vì thế mà mười cô gái ở nghĩa trang Đồng Lộc đã thỉnh cầu: Cần gì ư, lời ai hỏi trong chiều/ Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu/ Ngày bom vùi tóc tai bết đất/ Nằm xuống mộ rồi mái đầu chưa gội được/ Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang ("Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc"-Vương Trọng).
Không thể nói hết tình cảm chất chứa trong các bài thơ viết về liệt sĩ. Nói bao nhiêu cũng còn thiếu. Thôi, các bạn hãy đọc, lặng lẽ đọc những bài thơ ấy. Tôi tin các bạn sẽ gặp được một miền thiêng liêng xao động...
NGUYỄN HỮU QUÝ