1. Cộng đồng dân cư cơ sở giàu bản sắc, sáng-xanh-sạch-đẹp không chỉ là mô tả cảnh quan đơn thuần mà là trạng thái phát triển của đời sống cộng đồng, trong đó hệ giá trị văn hóa được hình thành, vận hành và lan tỏa, chi phối hành vi xã hội theo hướng tích cực.

“Giàu bản sắc” là giữ được lõi giá trị của cộng đồng, những chuẩn mực ứng xử, phong tục, tập quán tốt đẹp, truyền thống hiếu học, nghĩa tình, tôn trọng người cao tuổi, tinh thần tương trợ, kỷ luật cộng đồng, cùng các thực hành văn hóa tín ngưỡng gắn với địa danh, dòng họ, nghề nghiệp... Bản sắc không dừng ở việc “có lễ hội” hay “có di tích”, mà ở việc các giá trị ấy còn được thực hành, truyền dạy và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh hiện đại. Khi người dân chủ động bảo tồn di sản, duy trì sinh hoạt văn hóa và xây dựng quy ước cộng đồng, bản sắc sẽ trở thành nội lực phát triển.

Mô hình "Ngôi nhà xanh" tại Trường Tiểu học Phả Lại, TP Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là phường Chí Linh, TP Hải Phòng). Ảnh: TUẤN MINH 

“Sáng” không chỉ là yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, mà ẩn chứa nội hàm văn hóa. Trước hết là sáng về không gian với hệ thống chiếu sáng bảo đảm an toàn, giảm tệ nạn, tạo điều kiện cho sinh hoạt cộng đồng. Sâu hơn, đó là sự minh bạch và văn minh trong quản trị cộng đồng như công khai các khoản đóng góp, rõ ràng quy ước và tiêu chí bình xét, truyền thông đầy đủ để người dân hiểu và đồng thuận. Một cộng đồng “sáng” là nơi cái đúng được bảo vệ, cái đẹp được khuyến khích và cái sai được điều chỉnh bằng cơ chế tự quản có văn hóa, chứ không chỉ bằng chế tài hành chính.

“Xanh” không chỉ là trồng cây hay làm đường hoa, mà là một lựa chọn phát triển ưu tiên không gian công cộng, tăng diện tích cây xanh, bảo vệ mặt nước, giảm bê tông hóa cực đoan, ứng xử hài hòa với thiên nhiên. Quan trọng hơn, “xanh” là hình thành thói quen hạn chế rác nhựa, tiết kiệm năng lượng, không xả thải bừa bãi, giữ gìn kênh mương, ao hồ như một phần “hệ sinh thái văn hóa” của địa phương. Tinh thần này phù hợp với pháp luật về bảo vệ môi trường, theo đó, bảo vệ môi trường là trách nhiệm trực tiếp, thường xuyên của cộng đồng dân cư và từng hộ gia đình.

“Sạch” vừa là trạng thái vật chất vừa là chuẩn mực xã hội. Sạch trong cảnh quan, đường làng ngõ xóm ngăn nắp, duy trì vệ sinh thường xuyên; sạch trong lối sống, giảm tệ nạn và các hành vi lệch chuẩn, xây dựng văn hóa ứng xử văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội... Khi sự tôn trọng pháp luật và chuẩn mực văn hóa trở thành thói quen tự giác, cộng đồng hình thành kỷ luật dựa trên sự đồng thuận bền vững.

“Đẹp” là sự tổng hòa giữa cảnh quan và quan hệ xã hội. Đẹp cảnh quan thể hiện ở sự chỉnh trang đồng bộ nhà ở, tuyến phố, ngõ xóm, hài hòa kiến trúc, cây xanh và không gian công cộng, tạo nên môi trường sống có trật tự và điểm nhấn văn hóa. Đẹp quan hệ xã hội là tinh thần đoàn kết, tương trợ, tôn trọng sự khác biệt, sẵn sàng tham gia hoạt động chung và giải quyết mâu thuẫn bằng đối thoại, quy ước cộng đồng. Vẻ đẹp của không gian phải song hành với vẻ đẹp của con người, nếu cảnh quan được cải thiện nhưng quan hệ xã hội rạn nứt, cộng đồng ấy chưa thể đạt tới “đẹp” theo nghĩa trọn vẹn.

Tóm lại, cộng đồng dân cư cơ sở giàu bản sắc, sáng-xanh-sạch-đẹp là cộng đồng hội tụ 3 lớp giá trị, gồm: Văn hóa (bản sắc, chuẩn mực, nếp sống); thiết chế, tổ chức (tự quản, quy ước, thiết chế văn hóa, truyền thông cộng đồng) và không gian sống (hạ tầng, cảnh quan, môi trường). Khi 3 lớp này gắn kết, cộng đồng có khả năng tự điều chỉnh, duy trì bền vững và lan tỏa giá trị tích cực. Khi đó, sáng-xanh-sạch-đẹp không còn là khẩu hiệu mà trở thành nếp sống ổn định được duy trì bằng ý thức văn hóa. Chính ở điểm này, văn hóa thực sự trở thành nền tảng và động lực của phát triển bền vững từ cơ sở.

2. Trong cấu trúc ấy, khu dân cư là hạt nhân của quá trình kiến tạo. Đây là đơn vị xã hội gần dân nhất, nơi mọi chủ trương được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Chính trong không gian thôn, tổ dân phố, các giá trị được hình thành, lặp lại và chuẩn hóa thành nếp sống. Khi khu dân cư vận hành tốt, nó trở thành “bộ lọc văn hóa”, tự điều chỉnh hành vi lệch chuẩn, khuyến khích những giá trị tích cực, tạo nên sức đề kháng xã hội trước các tác động tiêu cực từ bên ngoài. Tuy nhiên, khu dân cư chỉ thực sự là hạt nhân khi người dân được đặt vào vị trí chủ thể. Văn hóa không thể áp đặt từ trên xuống, nó chỉ bền vững khi được hình thành từ sự đồng thuận và tham gia tự nguyện của cộng đồng. Khi người dân trực tiếp tham gia xây dựng, vận hành và giám sát việc thực hiện, mỗi mục tiêu sẽ trở thành cam kết xã hội chứ không phải chỉ tiêu hành chính.

Thực tiễn cho thấy, ở những địa phương mà người dân được trao quyền tham gia và giám sát, các phong trào xây dựng khu dân cư văn hóa có sức sống lâu dài hơn. Tinh thần tự quản giúp giảm áp lực cho chính quyền cơ sở, đồng thời tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm cộng đồng. Khi người dân coi không gian chung là tài sản chung, coi bản sắc là niềm tự hào, coi môi trường là điều kiện sống thiết yếu, thì việc duy trì sáng-xanh-sạch-đẹp sẽ không còn phụ thuộc vào đợt ra quân hay chỉ tiêu thi đua, mà trở thành nhu cầu tự thân. Nói cách khác, lấy văn hóa làm nền tảng không chỉ là tôn vinh giá trị truyền thống, mà là đặt con người vào trung tâm của mọi thiết kế chính sách.

Khi mỗi cá nhân ý thức rõ vai trò của mình trong cấu trúc cộng đồng, khu dân cư trở thành không gian tương tác tích cực và giàu bản sắc. Khi đó, cộng đồng sẽ có đủ nội lực để phát triển bền vững và thích ứng linh hoạt với biến động của thời đại. Tại Hội An, khi cộng đồng giữ vai trò chủ thể trong bảo tồn di sản, bản sắc đã trở thành nguồn lực phát triển. Ở Đà Nẵng, sự kết hợp giữa quản lý đô thị và phong trào cộng đồng góp phần hình thành những khu dân cư văn minh, sạch đẹp và có sức sống lâu dài. Định hướng phát triển của TP Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết số 15-NQ/TW cũng khẳng định rằng chính sách vĩ mô chỉ phát huy hiệu quả khi được cụ thể hóa ở cấp cơ sở, nơi các tiêu chí văn minh đô thị được chuyển hóa thành hành vi và nếp sống thường nhật.

Để chủ trương không dừng lại ở khẩu hiệu mà trở thành chuyển biến cấu trúc của đời sống cộng đồng, cần tập trung vào 3 trụ cột triển khai ở cấp cơ sở.

Trước hết, cần vận hành thực chất các thiết chế văn hóa theo hướng đa chức năng và có nhịp sinh hoạt thường xuyên. Nhà văn hóa, thư viện cộng đồng, sân chơi thể thao không chỉ là công trình hạ tầng, mà phải trở thành không gian tương tác xã hội định kỳ, nơi diễn ra giáo dục truyền thống, sinh hoạt câu lạc bộ văn nghệ, thể thao, phổ biến pháp luật, đối thoại cộng đồng và nuôi dưỡng các giá trị chung. Khi thiết chế có hoạt động, không gian mới có đời sống. Khi có đời sống, giá trị mới được tái tạo.

Thứ hai, củng cố cơ chế tự quản gắn với minh bạch và trách nhiệm giải trình. Hương ước, quy ước phải được xây dựng dân chủ, phù hợp pháp luật và phản ánh thực tiễn địa phương, việc vận động đóng góp, chỉnh trang cảnh quan, bình xét danh hiệu phải công khai, có cơ chế giám sát cộng đồng. Tự quản không phải là “khoán trắng”, mà là trao quyền đi kèm trách nhiệm và sự đồng thuận.

Thứ ba, chuyển hệ thống đánh giá từ hình thức sang thực chất. Tiêu chí cần gắn với chất lượng sống, mức độ hài lòng của người dân và khả năng duy trì bền vững, thay vì chỉ dựa vào danh hiệu hoặc thành tích ngắn hạn. Khi trọng tâm chuyển từ “đạt chuẩn” sang “giữ chuẩn”, phong trào mới có chiều sâu và sức sống dài lâu.

Xây dựng cộng đồng văn hóa cơ sở không chỉ là chỉnh trang diện mạo mà là bồi đắp “vốn xã hội”-hệ giá trị, niềm tin và sự đồng thuận tạo nên sức mạnh nội sinh của phát triển. Khi văn hóa được đặt đúng vị trí trung tâm, cộng đồng không chỉ đẹp hơn về hình thức mà còn bền vững hơn về cấu trúc, vững vàng hơn trước biến động. Khi khu dân cư thực sự là hạt nhân và người dân là chủ thể, sáng-xanh-sạch-đẹp sẽ trở thành nếp sống tự giác, được duy trì bằng ý thức và trách nhiệm chung. Ở đó, lấy văn hóa làm nền tảng không còn là khẩu hiệu hay phong trào mà là phương thức tổ chức đời sống xã hội từ nền tảng giá trị-bắt đầu từ cơ sở, từ mỗi cộng đồng và từ từng con người cụ thể.