QĐND - Mỗi lần từ ngôi nhà hiện tại của tôi ở Dushanbe đi đến Isfara, tôi đều ghé đến làng quê của mình để viếng mộ cha tôi. Một cây ngô đồng rậm rạp vươn cao phía trên nơi an nghỉ của ông. Nhiều năm về trước, tôi nhớ rất rõ, cái cây không có ở đây. Tôi lắng nghe tiếng lá và tưởng tượng cha tôi đang đứng bên, thầm thì rằng ông đã hồi sinh trong thân cây này. Các cành cây nhẹ nhàng đong đưa chạm lá vào nhau, những chiếc lá lớn như lòng bàn tay, cứ luôn xào xạc. Chúng cố gắng nói với tôi gì thế? Cha tôi muốn nói gì với tôi vậy?… Tôi im lặng, đầu cúi xuống, lắng nghe… Khi cái cây này xuất hiện trên mộ cha tôi, để kính trọng ký ức về ông, dân làng tôi đã trồng trên toàn bộ con đường dẫn đến nghĩa trang những cây ngô đồng.
Tôi chỉ mới ba tuổi khi cha tôi rời nhà ra chiến trường, và tôi khó mà nhớ được khuôn mặt của ông. Chỉ nhớ rằng ông có một bộ ria dài màu đen. Và mỗi lần tôi gặp một người lạ có ria, tôi đều đi theo sau ông ấy với sự bối rối không biết ông có phải là cha tôi hay không, đăm đăm nhìn vào mặt ông và hy vọng ông sẽ mỉm cười với tôi. Mẹ tôi và bà tôi đều mô tả với tôi về ông nhưng tôi vẫn không thể hình dung ra khuôn mặt cha tôi như thế nào. Nhưng tôi tự an ủi mình rằng chiến tranh sẽ sớm kết thúc và cha tôi sẽ quay về. Rồi thì người hàng xóm của chúng tôi, dì Kha-ni-pha, nhận được một lá thư nói rằng chồng dì đã hy sinh, và tôi nhận ra rằng bạn tôi, Si-rô-di đã không còn cha. Sau việc đó, một nỗi sợ hãi mơ hồ gặm nhấm tim tôi, vì tôi nghĩ rằng mọi người trở về sau một cuộc chiến đều khỏe mạnh và còn sống; cho đến khi lá thư về cha của Si-rô-di tới nơi. Nhưng có vẻ chiến tranh là một điều gì đó hoàn toàn khác hẳn: Người ta bị giết và được chôn ngay tại chiến trường. Và tim tôi tràn ngập một nỗi sợ hãi khủng khiếp về một điều gì tương tự có thể xảy ra với cha tôi… Sau lá thư đầu tiên ấy, bà tôi, mẹ tôi và tôi đều đông cứng lại với nỗi khủng khiếp bất cứ lúc nào mà người bưu tá của chúng tôi là ông Bô-bô-ra-mát râu dài đi đến nhà. Và khi ông đi khỏi, tiếng kêu gào khóc lóc sẽ trỗi dậy, và toàn thể ngôi làng sẽ chìm vào trong tang tóc. Chúng tôi gọi những ngày chúng tôi phải chịu tang là “những ngày đen tối”. Si-rô-di và tôi sẽ không chơi những trò chơi trẻ con ầm ĩ. Hầu như mỗi ngày chúng tôi đều đi ra đường Mu-mi-nắc để đợi người đưa thư và phát hiện loại tin tức nào mà ông mang theo và đem cho ai. Một lần, tôi hỏi Si-rô-di tại sao nó đi đợi người đưa thư. “Ừ, có lẽ bố sẽ về nhà” là câu trả lời của nó. Nhưng điều ấy làm sao có thể có được chứ? Tại sao nó cứ hy vọng cha nó còn sống? Người ta không thể trở về từ cái chết kia mà? Si-rô-di dường như đoán được ý nghĩ của tôi nên nói: “Có một vài người quay về cho dù gia đình họ đã nhận được thông báo nói rằng họ đã chết”. “Có như thế sao?”. “Phải, thực thế. Ông Bô-bô-ra-mát nói với mẹ tớ như vậy”. Thình lình tôi hỏi nó: “Si-rô-di, cậu có nhận ra cha cậu nếu ông đang đi dọc đường cái không?”. “Chắc chắn rồi! Tớ đã 5 tuổi khi ông đi chiến đấu! Ông đã dẫn tớ đến tiệm tạp hóa và mua đậu muối cho tớ”. “Cậu biết đấy, tớ không còn nhớ bố tớ như thế nào cả. Tớ chỉ nhớ là ông có một bộ ria dài”, tôi buồn rầu nói. Nó bảo tôi: “Đừng lo, tớ biết bố cậu, A-bu-lô à! Tớ nhớ ông như thế nào còn rõ hơn ban ngày… Ông thường xuyên đem tớ đi theo trên chiếc máy cày của ông”. Tôi nhìn cánh đồng xanh tươi và không nhận ra là nước mắt đang chảy xuống má.
 |
| Minh họa: Phạm Hà. |
Một ngày nọ, mẹ tôi đánh thức tôi từ lúc bình minh. “Dậy nào, con trai. Cha của Nai-gion vừa từ chiến trường về nhà”. Tôi ngồi bật dậy và chạy ra sân, nghĩ rằng cha của Nai-gion đến thăm chúng tôi. Nhưng không có ai ở bên ngoài cả. “Ông ấy đâu?”, tôi kêu lên với mẹ tôi. “Ông ấy ở nhà ông ấy”, mẹ giải thích. Và tôi chạy chân trần, như tôi vẫn thường như thế, tới nhà của Nai-gion càng nhanh càng tốt, như thể không phải cha nó mà là cha tôi đang trở về nhà. Có lẽ đó thực sự là cha tôi và ông chỉ quên đường về nhà chúng tôi thôi. Hay có lẽ trên đường về với chúng tôi, ông chỉ dừng lại ở nhà của Nai-gion. Tôi chạy vào trong sân của họ và ở đó Nai-gion đang bá cổ cha mình. Vừa lúc đó Si-rô-di chạy xông vào, và bọn tôi đứng ở góc sân, ganh tị nhìn Nai-gion. Chú Mu-hi-đin - cha Nai-gion, đã cởi bộ đồ quân phục và bận vào một cái áo dài truyền thống. Nhưng một ống tay áo của ông thì trống rỗng khiến tôi hết sức ngạc nhiên. “Tay ông ấy đâu?”, tôi thầm thì hỏi Si-rô-di. “Bọn phát xít đã ăn nó rồi”, nó đáp. Tôi nghi ngờ nhìn Si-rô-di: “Bọn phát xít ăn nó rồi? Ý cậu muốn nói với tôi rằng bọn phát xít ăn cánh tay của người ta à?”. “Bọn phát xít ăn như lũ ma quỷ. Chúng là bọn ăn thịt người. Đó là vì sao người ta gọi chúng là phát xít”, nó cắt nghĩa. Tại sao con người ta có thể làm một việc như thế chứ? Có lẽ chúng đã ăn thịt cha của Si-rô-di!
Tôi lên bảy tuổi, tôi đã biết chiến tranh là gì và tất cả những gì Hít-le và quân đội của hắn đã làm. Bọn chúng tàn ác tiêu diệt các đô thị và đốt cháy các ngôi nhà. Và bây giờ tôi không chỉ biết về các tờ giấy báo tử đến từ mặt trận mà còn biết về những người đàn ông cụt tay.
Rồi một tối kia, chúng tôi đang ngồi trong sân, và dì Kha-ni-pha chạy đến, thở không ra hơi. “Tin tốt lành, tin tốt lành!” “Cái gì thế? Chuyện gì xảy ra vậy? Nói cho tôi biết nhanh lên!”, mẹ la lên, nhổm dậy trong sự mong đợi. “Ông ấy đã về! Ông ấy đã về!”, đó là tất cả những gì mà dì Kha-ni-pha có thể thốt ra được. “Tôi không thể tin được!”. Bà tôi khóc, cố nhổm dậy, nhưng chân bà không tuân theo ý bà. Mẹ xúc động đến nỗi bà không biết đặt cái tách bà đang cầm xuống đâu. Tôi nhảy ra khỏi ghế, sửng sốt vì kinh ngạc và đứng đó trố mắt nhìn dì Kha-ni-pha. “Xin chúc mừng! Một người nào đó đã nhìn thấy ông ấy ở Mu-mi-nắc!”. Dì Kha-ni-pha xúc động nói với chúng tôi. Sau cùng bà nội tôi nhận ra tin tức tốt lành là gì, nhảy ra khỏi bờ tường đất sét, tuột tấm khăn quàng cổ trên đầu bà ra và chạy băng qua sân ra ngoài đường cái. Bà chạy rất nhanh, chúng tôi không thể theo kịp bà. Gần trường học, chúng tôi gặp một người đàn ông bận một cái áo choàng kỵ binh. Những bước đi cà nhắc của ông làm ngáng đường chúng tôi. Chỉ có một cái chân thòi ra bên dưới áo choàng của ông và bước đi của nó kêu vang. Khi tôi nhìn gần hơn, tôi thấy nó được làm bằng gỗ! Không phải một chân người bước đi mà là một thanh gỗ! Việc gì trên đời đã xảy ra với người đàn ông này vậy? Tôi bị sốc kinh khủng. Cặp chân ông ấy đâu rồi? Có thể là bọn phát xít đã ăn chúng rồi chăng? Chúng thực sự là bọn ăn thịt người! Ngực ông ấy gắn đầy huy chương, ở giữa chúng là ngôi sao vàng lớn của Huân chương Anh hùng Liên Xô. Bà tôi chắp hai tay nguyện cầu đoạn chạy tới ôm chầm lấy người đàn ông bận áo choàng kỵ binh. Mẹ tôi vùi mặt vào vai ông. Sau cùng khi tôi rời mắt khỏi những tấm huân chương, tôi nhìn lên khuôn mặt người đàn ông để thấy rằng ông thực sự có một bộ ria dài màu đen! Bộ ria của cha tôi! Mặt đất bắt đầu rung chuyển và xao động dưới chân tôi. Người đàn ông trong áo choàng kỵ binh là cha tôi! Sau cùng cha tôi đã trở về nhà! “Cha, cha thân yêu!”, tôi kêu lên và bá cổ cha tôi.
Nguyên cả tuần, những bữa tiệc ở nhà chúng tôi mới kết thúc. Cha tôi đặt tôi ngồi trên vai ông, và tôi chải bộ ria cho ông. Nhìn lui lại, có vẻ như tuần lễ ấy là tuần lễ tươi đẹp nhất của đời tôi. Một ngày nọ, tôi nghe mẹ tôi nói với bà tôi: "Toàn bộ thân thể anh ấy phủ đầy thương tích và những vết sẹo khủng khiếp…", “Con biết những gì họ nói đấy. Người đàn ông thì cứng như đá và dễ gãy hơn bông hoa”, bà tôi trả lời một cách bí hiểm. Phải, trong một tuần lễ, chúng tôi đã có một lễ hội lớn và sau đó thình lình nó kết thúc trong sự buồn đau. Sáng hôm ấy, tôi thức giấc bởi những tiếng kêu khóc xé tim của mẹ tôi và bà tôi. Tôi mở mắt ra để thấy rằng cha tôi đang nằm bên tôi đã chết, đầu ông ngã qua một bên, một cánh tay ôm quanh đôi vai tôi. Tôi trông thấy đó là sự thực, nhưng tôi không thể tin được. Thậm chí tôi không thể khóc. Tôi chỉ muốn kêu lên: “Cha, cha thân yêu ơi!” lần này qua lần khác.
Lâu về sau, tôi nhận ra rằng giống như cha Si-rô-di, cha tôi cũng có thể bị giết chết ngoài chiến trường trong cuộc chiến đấu với bọn phát xít. Nhưng tôi may mắn hơn. Cha tôi đã trở về nhà, bất chấp mọi vết thương chết người của ông, xuyên qua lửa đạn, vượt qua mọi đau đớn và gian khổ. Ông đã trở về nhà và cho tôi, đứa con trai duy nhất của ông, ký ức về khuôn mặt ông, cái nhìn đăm đăm nhiều ý nghĩa của ông, nụ cười thương yêu của ông và giọng nói âu yếm của ông.
Truyện ngắn của A-đu-sa-lôm A-ta-bay-ép (Tát-gi-ki-xtan)
VĨNH HIỀN dịch