Lòng người chộn rộn, bởi tháng Tư là tháng của thống nhất, của niềm vui toàn thắng, của ngày hội kết đoàn, hơn bốn chục năm rồi vẫn reo vang giữa trời đất hòa bình, trong lòng người dân đất Việt.

Tháng Tư của bốn mươi ba năm về trước, tôi cùng những cậu bé lên năm, lên sáu chân đất đầu trần, theo người lớn chạy long nhong từ đồng về làng, tập trung quanh gốc đa nghe loa phóng thanh phát tin miền Nam chiến thắng. Tin phát đi, tiếng phát thanh viên của đài hòa cùng tiếng reo khản lạc cả giọng mà mọi người vẫn như muốn nghe mãi âm thanh chiến thắng thiêng liêng ấy. Những lá cờ cắm vội tung bay trước gió. Nhiều người ôm nhau khóc. Những vòng tay ôm chặt trong điệu múa kết đoàn. Nhiều ông già bà cả, nhiều phụ nữ ôm con, mắt dõi về phương Nam. Tin chiến thắng về rồi, ngày vui thống nhất đã trở thành hiện thực rồi, người thân chắc nay mai sẽ trở về từ nơi ấy.

Bà ngoại tôi tách khỏi cây đa làng, đi về phía cuối con đường đất, hai tay chắp trước ngực, ánh mắt xa xăm. Những sợi tóc muối tiêu phất phơ. Mẹ kéo tôi đi theo bà, miệng lẩm nhẩm: “Cầu mong có một phép màu cho cậu trở về yên ổn, vẹn nguyên để mà lấy vợ…”.

Thế rồi những ngày tháng Tư năm sau, năm sau nữa và sau đó rất nhiều năm, bà ngoại tôi vẫn theo con đường rìa làng, đứng chắp tay trước ngực nhìn về phía xa xăm, miệng lầm rầm mong mỏi. Tóc bà bạc dần, rụng dần theo từng tháng, từng năm. Mãi sau này, khi bà đi xa rồi, tôi mới được mẹ cho hay, con đường ấy, bà và mẹ tiễn cậu đi chiến trường. Cậu ra đi khi vừa mười tám. Tôi nhớ như in lời bà thường dặn: “Cậu đã hy sinh để cuộc sống bà cháu mình tốt hơn, nhưng bà vẫn mong có phép nhiệm màu nào đó... Bà đi rồi, nhớ hằng năm ra đường chờ cậu, nhỡ cậu về không có người thân đón…”.

Bà đi xa rồi, cậu tôi đã trở về, nhưng trên tấm bia vinh danh. Hàng ngàn người trong làng, ngoài xã đến cùng đón cậu.

Tháng Tư này ở thành phố, nối mạch nguồn vào đại lộ lớn là những ngõ nhỏ, phố nhỏ ngắn, dài như kim phút, kim giờ. Đâu là âm thanh của "Bài ca thống nhất", của những khúc nhạc hành tiến hùng tráng tiến về Sài Gòn; đâu là con đường, con phố và những công trình mang tên 30 tháng Tư; đâu những sản phẩm gắn hiệu Giải Phóng. Kim đồng hồ chạy mãi theo thời gian, còn con đường, góc phố mang tên đất, tên người và tấm lòng hướng về miền Nam vẫn còn lại mãi mãi. Cờ đỏ sao vàng phấp phới và khẩu hiệu mừng chiến thắng của công sở, trường học, của nhà nhà ngợp bóng mừng Ngày Chiến thắng.

Chẳng hào nhoáng như tháng Tư ở thành phố, ở rìa làng tôi, lúa đương thì con gái vẫn như ngày cậu tôi cùng bao trai làng ra đi. Nay có khác là phía xa xa có đài tưởng niệm liệt sĩ màu vàng nổi lên giữa màu xanh đồng lúa ngút ngát. Những ngôi nhà tầng kiên cố mọc lên, ngày một mau hơn, đẹp hơn. Con đường rìa làng tiễn cậu tôi ra trận đã được bê tông hóa phẳng phiu, thẳng thớm. Những ruộng hoa loa kèn chính vụ đang khoe sắc trong nắng sớm giao mùa.

Khúc giao mùa tháng Tư, dù là ở làng hay chốn phồn hoa đô thị vẫn có nhiều điều riêng biệt không phải mùa nào cũng có, thân thương, tự hào, da diết. Có lẽ khúc giao mùa không chỉ nhìn bằng mắt, nghe bằng tai, tiếp xúc bằng tay, mà phải cảm nhận bằng nhớ thương, bằng hoài niệm đa chiều.

Từ nơi thành phố về làng trong tháng Tư, đi trên con đường rìa, giữa hình ảnh, âm thanh cuộc sống còn vẳng nghe âm thanh của thiên nhiên. Tôi nhìn thấy đường dây thông tin mạng tỏa vào các ngõ. Tôi nghe thấy tiếng chim sâu ríu ra ríu rít trong rì rào sóng lúa. Tôi nghe thấy tiếng hoa loa kèn cất lên giữa những vô thanh. Và giữa khúc âm thanh giao mùa đa thanh, đa sắc ấy, hình như có tiếng của cậu tôi đang thì thầm bên dáng còng bà ngoại, giữa đồng lúa mênh mang…

Tản văn của ĐỨC ĐÀO