Những dự án như “Sắc Việt” của sinh viên Trường Đại học FPT Hà Nội hay “Ngọc Thủy Đình” qua Triển lãm múa rối nước “THE ARt of WATER” do sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền thực hiện cho thấy một điểm chung: Người trẻ không đứng ngoài di sản, mà chủ động đối thoại với di sản. Họ không tìm cách thay đổi bản chất nghệ thuật truyền thống, mà tìm một lối kể mới hấp dẫn hơn.
 |
| Nhóm sinh viên thực hiện dự án “Sắc Việt”. Ảnh: THÁI QUỲNH |
Ở “Sắc Việt”, di sản hiện lên từ những bức tranh gỗ 3D tích hợp công nghệ thực tế tăng cường (AR). Khi người xem đưa điện thoại lên quét, múa rối nước, tuồng, chèo hay nhã nhạc cung đình Huế như đang diễn cho người xem bằng chuyển động, âm thanh và không gian ảo. Tương tự, Triển lãm múa rối nước “THE ARt of WATER” mở ra một thủy đình thu nhỏ nơi chỉ cần một thao tác quét mã QR, công chúng có thể theo dõi trọn vẹn các tích trò rối nước.
Trực tiếp tư vấn chuyên môn dự án "Sắc Việt", Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam đánh giá cao ý tưởng sáng tạo và cho rằng đây là sự dũng cảm của người trẻ. Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Ngọc Hòa, Giám đốc Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội nhấn mạnh, dự án "Ngọc Thủy Đình" là minh chứng sống động cho sự sáng tạo và trách nhiệm xã hội của các bạn trẻ, khi biết kết hợp đam mê, kiến thức và kỹ năng.
Điểm đáng quý ở những dự án này không nằm ở công nghệ AR hay hình thức trưng bày, mà ở thái độ tiếp cận di sản của sinh viên. Trước khi số hóa, họ đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, xem biểu diễn, phỏng vấn nghệ nhân, làm việc cùng các nhà nghiên cứu và các nhà hát chuyên nghiệp. Những dự án trên là một phần trong khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, nhưng qua câu chuyện họ kể, hình ảnh họ mang đến, người trẻ đang là nhân vật chính trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa hiện nay.
Với Triển lãm múa rối nước “THE ARt of WATER”, nhóm sinh viên đã chủ động số hóa 17 tích trò rối nước. Từ khâu khảo sát tư liệu, xây dựng kịch bản ghi hình, quay dựng tại sân khấu thủy đình, đến xử lý hậu kỳ và tích hợp dữ liệu trên nền tảng AR, mỗi bước đều được thực hiện theo tinh thần chủ động nghiên cứu và liên tục thử nghiệm để bảo đảm chất lượng hình ảnh, chuyển động và bố cục thể hiện. “Sắc Việt” khởi nguồn từ những trải nghiệm rất đời thường của các bạn sinh viên: Những buổi đi xem, những lần tò mò tìm hiểu các loại hình diễn xướng dân tộc. Sự hứng thú ban đầu dần nhường chỗ cho một nỗi trăn trở, khi họ nhận ra rằng những giá trị ấy đang ngày càng mờ nhạt trong đời sống đương đại. Từ đó, nhóm đã lựa chọn công nghệ, một thứ ngôn ngữ quen thuộc của thế hệ mình để làm mới cách kể và kéo di sản lại gần hơn với công chúng.
Khi được kể bằng ngôn ngữ của thời đại, trách nhiệm và sáng tạo của người trẻ, di sản có thêm cơ hội bước ra khỏi không gian bảo tồn để hòa vào đời sống. “Sắc Việt” hay “Ngọc Thủy Đình” tuy quy mô còn nhỏ, nhưng chính từ sự dũng cảm của người trẻ, hành trình hiểu-yêu-gìn giữ văn hóa truyền thống mới có thể được tiếp nối bền vững.