Các đồng chí: PGS, TS Lê Hải Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; Trung tướng, PGS, TS Phan Xuân Tuy, Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân; PGS, TS Đặng Hà Việt, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Đào tạo và Môi trường, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; PGS, TS Đinh Công Tuấn, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đồng chủ trì hội thảo.
 |
| Đại biểu tham dự hội thảo. |
Hội thảo nhận được 162 tham luận của các nhà nghiên cứu, giảng viên, các nhà quản lý đến từ nhiều cơ quan, đại học, viện nghiên cứu.
 |
| PGS, TS Đinh Công Tuấn trình bày báo cáo đề dẫn. |
Trình bày báo cáo đề dẫn, PGS, TS Đinh Công Tuấn nhấn mạnh: Hội thảo có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện, trước hết là diễn đàn khoa học để tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cốt lõi về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, góp phần nhận diện sâu hơn những nội dung mới, những yêu cầu mới và những điểm đột phá của Nghị quyết số 80-NQ/TW trong bối cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ nằm ở kinh tế, công nghệ hay quân sự, mà ngày càng biểu hiện rõ sức mạnh mềm và năng lực sáng tạo, năng lực giá trị và khả năng lan tỏa bản sắc thì việc phát triển văn hóa trở thành yêu cầu khách quan của phát triển quốc gia.
Theo Phó hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Văn hóa Hà Nội: Hội thảo là dịp để đánh giá thực tiễn phát triển văn hóa ở nước ta thời gian qua, nhất là những kết quả đã đạt được, những điểm nghẽn đang tồn tại. Hội thảo hội tụ trí tuệ các nhà khoa học, các nhà quản lý, chuyên gia và thực tiễn địa phương góp phần đề xuất các luận cứ, kiến nghị chính sách nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW.
PGS, TS Đinh Công Tuấn cho biết: Các tham luận gửi về hội thảo đã nổi bật trên 3 vấn đề lớn: Đồng thuận rất cao trong việc khẳng định vị thế mới của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước; tiếp cận, nghiên cứu ngày càng cho thấy rõ tính liên thông giữa văn hóa với kinh tế, công nghệ, giáo dục, du lịch, đối ngoại và quản trị xã hội; yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục khẳng định về mặt tư tưởng mà phải chuyển hóa các điểm lớn của nghị quyết thành thể chế, chính sách, nguồn lực, mô hình quản trị và kết quả thực hiện trong đời sống.
Các tham luận tập trung bàn luận, trao đổi 5 cụm vấn đề chính: Hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý văn hóa. Trong vấn đề này, các nhà nghiên cứu đề nghị đẩy nhanh thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW; bảo đảm tính đồng bộ, liên thông giữa pháp luật về văn hóa với pháp luật về giáo dục, khoa học - công nghệ, đầu tư, tài chính, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, an ninh mạng và thương mại điện tử; chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển; phát huy vai trò kiến tạo của nhà nước; tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình.
Nhiều tham luận đã chỉ ra rằng, không gian văn hóa ngày nay không chỉ tồn tại trong các thiết chế truyền thống, mà đang mở rộng mạnh mẽ sang môi trường số. Vì vậy, quản trị văn hóa cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu, nền tảng số, chỉ số đo lường, công cụ giám sát hiện đại, đồng thời phải chú trọng bản quyền số, chủ quyền văn hóa số và an ninh văn hóa trên không gian mạng.
Thứ hai, vấn đề xây dựng hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Vấn đề này nhận được nhiều ý kiến bàn luận sâu sắc, cụ thể và thực tế của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Một số tham luận đã phân tích khá sâu các vấn đề mới đang đặt ra đối với hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay, như: Sự biến đổi trong quan hệ gia đình và liên thế hệ; những tác động đa chiều của mạng xã hội và truyền thông số; nguy cơ phân mảnh giá trị; xu hướng tiêu dùng văn hóa nhanh; hiện tượng lệch pha giữa nhận thức và thực hành giá trị; thách thức trong việc gìn giữ bản sắc mà không khép kín, trong hội nhập mà không hòa tan.
Các nghiên cứu về thanh niên, sinh viên, lực lượng công an, quân đội, cũng như những tham luận tiếp cận từ đạo đức Phật giáo, từ văn hóa lãnh đạo, từ làng nghề truyền thống... đều cho thấy hệ giá trị không phải là vấn đề trừu tượng, mà phải được kiến tạo trong môi trường sống cụ thể, thông qua giáo dục, thực hành và nêu gương.
 |
| PGS, TS Bùi Hoài Sơn trình bày tham luận. |
Thứ ba, vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong xây dựng thương hiệu.
Đã có 37 tham luận tập trung thảo luận, gợi mở vấn đề này. Một trong những đóng góp quan trọng của nhóm tham luận này là chỉ ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy bảo tồn tĩnh sang tư duy bảo tồn động; từ việc lưu giữ đơn thuần sang dữ liệu hóa, số hóa, kể chuyện di sản, nâng cao trải nghiệm công chúng, đổi mới hoạt động bảo tàng, phát triển sản phẩm văn hóa - du lịch, xây dựng thương hiệu điểm đến và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng. Nhiều trường hợp nghiên cứu cho thấy khi di sản được kết nối đúng cách với kinh tế sáng tạo, với truyền thông số và với thị trường du lịch, giá trị của di sản không bị giảm sút, mà trái lại có thể được lan tỏa mạnh mẽ hơn, đóng góp nhiều hơn cho phát triển.
Thứ tư, vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh.
Theo các nhà nghiên cứu, Việt Nam có nhiều tiềm năng trong các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, nội dung số, game, thiết kế, xuất bản, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn và truyền thông sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo ra công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh thực sự, cần đồng thời giải quyết nhiều điểm nghẽn: Hành lang pháp lý; thị trường; bản quyền; hạ tầng số; cơ chế đầu tư; liên kết công - tư; nhân lực trung gian; năng lực quảng bá, phát hành và mở rộng ra thị trường quốc tế. Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam phải gắn với công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, thương hiệu quốc gia và hội nhập quốc tế; đồng thời phải tạo được những cụm ngành, những ngành mũi nhọn, những địa bàn động lực và những sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh, lan tỏa, dẫn dắt thị trường.
Thứ năm, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tạo động lực phát triển văn hóa.
Một điểm nhấn quan trọng được nhiều tham luận đề cập là nhu cầu phải đổi mới căn bản tư duy đào tạo nhân lực văn hóa. Nhân lực văn hóa thời kỳ mới phải có ba năng lực đồng thời: Năng lực chuyên môn văn hóa - nghệ thuật; năng lực quản trị và tổ chức; năng lực công nghệ, dữ liệu và thích ứng số. Cùng với đó là yêu cầu phát triển văn hóa lãnh đạo, đạo đức công vụ, tinh thần phục vụ, năng lực liên kết đa ngành và năng lực làm việc trong môi trường toàn cầu hóa.
 |
| PGS, TS Lê Hải Bình kết luận hội thảo. |
Phát biểu kết luận hội thảo, PGS, TS Lê Hải Bình đánh giá: Các tham luận, ý kiến phát biểu tại hội thảo đã thể hiện sự sâu sắc, tâm huyết với sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam. Các ý kiến cũng đề xuất nhiều giải pháp thiết thực, khả thi nhằm thực hiện hiệu quả các nội dung của Nghị quyết số 80-NQ/TW. Các ý kiến, giải pháp được đề xuất sẽ phục vụ trực tiếp công tác tham mưu cho các ban, bộ, ngành trong quá trình triển khai Nghị quyết. Đồng thời, các địa phương có thể tham khảo nội dung tham luận và ý kiến tại Hội thảo để vận dụng linh hoạt, góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết gắn với điều kiện thực tiễn.