- Đây là nhà o Hến, bên tê là nhà o Giảng nhưng họ đi xa cả rồi! Thôi, ta sang nhà o Đợi.

Bà cụ ấy là mẹ tôi, còn o Hến, o Giảng, o Đợi… là những người bạn đã cùng mẹ đi dân công hỏa tuyến phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1950, mẹ tôi-cô gái mồ côi làng Bến, xã Quảng Tiến lấy chồng cũng là một chàng trai mồ côi ở làng Xuân Phương, xã Quảng Châu, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Quê bố cách quê mẹ một con sông, cách trở đò ngang. Lấy nhau được một năm, bố đi bộ đội, năm sau mẹ cũng lên đường ra tiền tuyến, tham gia dân công phục vụ Chiến dịch Thượng Lào rồi Chiến dịch Điện Biên Phủ. Cùng đi đợt ấy với mẹ trong làng còn có nhiều nam nữ thanh niên. Họ tham gia phá đá, mở đường, làm cầu, vận chuyển lương thực, đạn dược, thuốc men phục vụ bộ đội đánh giặc.

Vì có sức khỏe, lại son rỗi nên mẹ và một số người bạn như o Đợi, o Hến, o Giảng… được xếp vào một tổ phục vụ ở những chặng xa. Hành trang mỗi người là chiếc đòn gánh được làm từ nửa thân tre già và hai chiếc bồ đan bằng nan, mỗi bồ có 4 chân, có nắp đậy giữ cho gạo, cá khô, mắm muối luôn khô ráo, sạch sẽ. Nhận hàng từ cửa Hới (Sầm Sơn), họ bắt đầu gánh bộ men theo sông Mã, ngược núi rừng Tây Bắc, qua cửa khẩu Na Mèo, xuyên qua vùng đất Thượng Lào, vòng về Sơn La, lên Điện Biên, giao hàng và quay trở về nơi xuất phát nhận hàng rồi lại đi. Mỗi chuyến như thế kéo dài ròng rã nhiều tháng trời và chỉ bằng đôi chân trần cùng đôi vai ngày thêm chai mòn bởi sức nặng của hàng hóa.

Sách vở thường mô tả đi dân công ngày ấy vui như trẩy hội nhưng mẹ bảo thực tế thì vô cùng vất vả, hiểm nguy, bí mật. Để chặn đường tiếp tế của ta, giặc Pháp tung biệt kích, thám báo ngày đêm lùng sục; trên trời, chúng cho máy bay quần thảo, hễ phát hiện ra dân công là chúng tiến hành ném bom, tập kích; chúng còn thả thuốc độc xuống các dòng suối để đầu độc dân công và bộ đội. “Có lần, đại đội dân công nấu ăn để lọt khói bay lên, giặc Pháp phát hiện ra, chúng cho máy bay đến giội bom khiến cả đại đội hy sinh gần hết. Có người bỏ mạng vì sốt rét, hổ vồ, lũ cuốn. O Đợi và nhiều người khác uống phải nước có thuốc độc bị rụng hết tóc, chẳng thể sinh con, sống một mình vò võ đến tận bây giờ...”, mẹ bồi hồi nhớ lại.

Trên đường ra tiền tuyến, mẹ có đôi lần được gặp bố cũng đang tham gia chiến dịch. Tuy nhiên, giây phút gặp nhau rất ngắn ngủi. Hai người chỉ kịp nhìn nhau mừng mừng tủi tủi, kể cho nhau nghe đôi chút về công việc, sức khỏe, tình hình quê nhà, động viên nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ, chờ ngày chiến thắng sẽ đoàn viên.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, có lẽ mẹ là người vui sướng nhất bởi bên cạnh niềm vui chung có niềm vui riêng là bố sẽ trở về. Sau những ngày bận rộn vì tham gia đón bộ đội miền Nam tập kết, chống di cư, nhận hàng cứu trợ… mẹ lại lên xã, lên huyện dò hỏi tin tức của bố nhưng thời gian trôi đi một năm, hai năm, ba năm… vẫn bặt vô âm tín. Ai cũng bảo bố đã hy sinh rồi, đừng chờ đợi nữa, nhưng mẹ vẫn lặng lẽ đợi chờ, hy vọng.

Năm 1958, bố tôi trở về trong sự ngỡ ngàng của dân làng, trong niềm vui nghẹn ngào của mẹ. Thì ra, do nhiệm vụ đột xuất nên sau khi kết thúc chiến dịch, đơn vị của bố phải hành quân vào Nam tiếp tục chiến đấu nên không thể về thăm gia đình.

Giờ đây bố tôi đã mất, mẹ tôi thì già yếu, hầu hết những đồng đội của bố mẹ cũng đã thành người thiên cổ, nhưng ký ức về một thời Điện Biên vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí chúng tôi qua từng câu chuyện kể. Cuộc sống đã và sẽ đổi thay, nhưng di sản của bố mẹ, của biết bao người làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi là điều thiêng liêng, là niềm tự hào, nhắc nhở chúng tôi phải sống sao cho xứng đáng với tình yêu và sự hy sinh cao cả ấy.

QUANG VINH