Đa dạng đề tài và sự trỗi dậy của chất liệu văn hóa

7 bộ phim Tết Bính Ngọ đã lần lượt ấn định ngày ra rạp chiếu với những màu sắc riêng biệt, tạo nên một “thực đơn” phong phú cho khán giả: “Thỏ ơi” (đạo diễn Trấn Thành) mang đề tài tâm lý-chính kịch khai thác góc khuất của showbiz Việt; “Nhà ba tôi một phòng” (đạo diễn Trường Giang) kể câu chuyện bình dân, mộc mạc về tình thân tại khu chung cư cũ; “Báu vật trời cho” (đạo diễn Lê Thanh Sơn) kết hợp giữa hành động, hài và văn hóa vùng biển với cặp đôi diễn viên “tiên đồng ngọc nữ” hút phòng vé Tuấn Trần và Phương Anh Đào; “Mùi phở” (đạo diễn Minh Beta) được ví như bản giao hưởng văn hóa ẩm thực và tình cha con đậm chất Bắc Bộ; “Huyền tình Dạ Trạch” (đạo diễn Tôn Văn) tái hiện truyền thuyết Chử Đồng Tử-Tiên Dung; “Quỷ nhập tràng 2” (đạo diễn Pom Nguyễn, tên thật Trần Quốc Minh An) khai thác đề tài kinh dị tâm linh và “Nhà mình đi thôi” (đạo diễn Trần Đình Hiền) mang đến câu chuyện gia đình “tứ đại đồng đường”, đưa khán giả đi qua những vùng đất tươi đẹp, nắng vàng, biển xanh, cát trắng rực rỡ của miền Trung.

 Cảnh trong phim “Mùi phở” khai thác mạch ngầm văn hóa dân tộc. Ảnh do đoàn phim cung cấp

Không còn là lãnh địa độc tôn của những miếng hài, chuyện gia đình nhẹ nhàng như những mùa phim Tết trước, đường đua năm nay ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc về tư duy sáng tạo, khi các nhà làm phim bắt đầu khai thác sâu những mạch ngầm văn hóa dân tộc. Với “Mùi phở”, đạo diễn Minh Beta cho biết đã dành 4 năm tâm huyết để tạo nên một tác phẩm không chỉ để “xem” mà còn để “cảm”. Phim phục dựng quán phở của ông Mùi (nghệ sĩ Xuân Hinh) tại phố cổ Nam Định cũ (Ninh Bình hiện nay).

Từng màu tường vôi, cách bài trí bếp củi đều toát lên “hồn cốt” Bắc Bộ xưa, tạo nên một không gian hoài niệm đầy sức sống. Phim khéo léo lồng ghép nghệ thuật chầu văn, chèo, xẩm vào mạch phim hiện đại. Đặc biệt, sự xuất hiện của các nghệ sĩ miền Nam trong vai dâu con đã tạo nên sự kết nối thị hiếu giữa hai miền, xóa tan định kiến về “phim địa phương”. Qua ca khúc nhạc phim “Mùi ký ức”, phim tôn vinh hình ảnh người cha tảo tần bên bếp than hồng, biến bát phở thành biểu tượng của sự no đủ và tình thương gia đình bền chặt.

Với “Huyền tình Dạ Trạch”, lần đầu tiên hình tượng Thánh Chử Đồng Tử-một trong “Tứ bất tử” được đạo diễn Tôn Văn và ê kíp đưa lên màn ảnh rộng với quy mô hoành tráng. GS, TSKH Vũ Minh Giang (Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia), cố vấn của bộ phim, đánh giá cao sự mạnh dạn của cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội khi đầu tư sản xuất bộ phim tái hiện không gian văn hóa tiền Đông Sơn với các nghi lễ xăm mình, đúc đồng và thương cảng đường thủy sơ khai tại đầm Dạ Trạch.

Đây là bước tiến dài trong việc sử dụng kỹ xảo để giải mã những dòng sử liệu khô khan, đưa lịch sử sống trong thời hiện đại. Không dừng lại ở một câu chuyện tình yêu, phim khai thác sâu khát vọng làm giàu, đức hiếu thảo và sự tự do của người Việt cổ, giúp khán giả trẻ chạm vào mạch ngầm tín ngưỡng dân tộc theo cách trực diện và hấp dẫn nhất.

Đóng góp cho công nghiệp điện ảnh

Nhà phê bình điện ảnh Nguyễn Phong Việt cho rằng, sự cạnh tranh của 7 bộ phim ra rạp chiếu Tết với các đề tài từ huyền sử đến ẩm thực cho thấy các nhà làm phim Việt đã thoát khỏi cái bóng của phim “hài nhảm”. Khán giả giờ đây có quyền lựa chọn những món ăn tinh thần có chiều sâu văn hóa thay vì chỉ đến rạp để cười. Sự xuất hiện của những dự án như “Huyền tình Dạ Trạch” hay “Mùi phở” cho thấy xu hướng khai thác chất liệu bản địa đang trở thành “vũ khí sắc bén” để phim Việt cạnh tranh với các bom tấn nước ngoài.

Đạo diễn Minh Beta bày tỏ, anh đã có hơn 10 năm làm quản lý, vận hành chuỗi rạp, phục vụ hàng chục triệu khán giả ở mọi miền đất nước nên khi làm “Mùi phở”, anh và ê kíp rất quan tâm tìm hiểu về thị hiếu của khán giả. Dù phim kể câu chuyện gia đình miền Bắc nhưng nội dung, thông điệp hướng tới sự phổ quát, đại chúng để ai cũng có thể tận hưởng.

Các bộ phim cũng cho thấy rõ phân khúc khán giả, từ giới trẻ thích drama (kịch tính, gây cảm xúc cao trào, hài hước) đến những người lớn tuổi trân trọng giá trị truyền thống. Bên cạnh đó, việc các nhà làm phim như Minh Beta chấp nhận đầu tư ngân sách lớn, kéo dài thời gian quay từ 25 lên 40 ngày để chăm chút cho từng khung hình văn hóa; hay đạo diễn Tôn Văn với tâm huyết “giải mã” câu chuyện huyền sử về Thánh Chử Đồng Tử thời tiền Đông Sơn, cho thấy sự chuyển dịch từ “lượng” sang “chất” của điện ảnh Việt.

Cùng với đó, các bộ phim cũng được đầu tư định dạng IMAX (định dạng điện ảnh cao cấp với màn hình cỡ lớn, độ phân giải cao tối đa hóa góc nhìn), âm thanh chuẩn quốc tế, giúp điện ảnh nội địa đủ sức cạnh tranh với các bom tấn Hollywood ngay trên sân nhà.

Cũng theo GS, TSKH Vũ Minh Giang, những dự án điện ảnh tiên phong như “Huyền tình Dạ Trạch” tạo “cú hích” chuyển hóa di sản thành tài sản. Những bối cảnh như đầm Dạ Trạch (xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên) hay các làng nghề truyền thống trong phim minh chứng cho vai trò của truyền thông trong việc biến di sản thành sản phẩm giải trí chất lượng cao, có khả năng sinh lời và quảng bá du lịch.

Mùa phim Tết 2026 được cho là bức tranh sinh động của một nền điện ảnh đang tự tin chuyển mình, nơi những người làm nghề vừa có tư duy quản trị doanh nghiệp nhạy bén, vừa có trái tim đau đáu với văn hóa dân tộc. Khi giá trị truyền thống được kể bằng ngôn ngữ điện ảnh hiện đại, đó chính là lúc công nghiệp văn hóa Việt Nam đang được đà cất cánh.