(Tiếp theo và hết)
Với tư cách là một nền văn hóa, nền văn hóa quân sự Việt Nam cũng có một hệ thống cấu trúc, gồm 3 thành tố: Văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức cộng đồng. Trong đó văn hóa nhận thức giữ vai trò chủ đạo.
Về văn hóa nhận thức, văn hóa quân sự Việt Nam quan tâm nhiều đến phương pháp tư duy tổng hợp-biện chứng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến mối quan hệ giữa các yếu tố đó. Cái mà văn hóa quân sự Việt Nam quan tâm không chỉ là sự tập hợp các yếu tố riêng rẽ mà là mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố trên.
Nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ còn là sự thể hiện của văn hóa ứng xử. Theo truyền thống của văn hóa dân tộc, trong ứng xử, người Việt thiên về thái độ dung hợp trong tiếp nhận và mềm dẻo, hòa hiếu trong đối phó. Bên cạnh đòn bạo lực, tuy hết sức cần thiết, nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ còn có cả đòn tinh thần, đòn "đánh vào lòng người", một thứ vũ khí lâu đời của văn hóa quân sự Việt Nam đã hình thành từ 500 năm trước. Phương pháp này đã được vận dụng thành công trong trận đánh kết hợp với gọi hàng tiểu đoàn ngụy binh người Thái địa phương ở cụm cứ điểm Bản Kéo ngày 17-3-1954. Không những thế, trước đó 4 ngày, sau khi tiêu diệt gọn trung tâm đề kháng Him Lam vào đêm 13-3-1954, thì ngay sáng hôm sau, ta đã cho phép đối phương ra đưa lính bị thương về phân khu trung tâm. Trong cuốn hồi ký "Khép lại quá khứ đau thương", tác giả Kỳ Thu, nguyên trại trưởng trại tù binh sĩ quan Pháp số 1, đã viết: "Chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lòng nhân đạo của Quân đội nhân dân Việt Nam, đã biểu hiện sáng ngời ngay tại trận địa Điện Biên Phủ sau khi quân ta làm chủ chiến trường. Chúng ta đã cứu sống gần 1.000 thương binh nặng của địch sống ngoi ngóp trong các hầm hào bùn lầy, nước đọng, hôi thối, sức khỏe của chúng hoàn toàn suy sụp".
 |
|
Tượng đài bộ đội ta kéo pháo vào trận địa. Ảnh: Nghĩa Hân. |
Nghệ thuật quân sự Điện Biên Phủ còn chịu sự chi phối của văn hóa tổ chức cộng đồng. Con người nông nghiệp lúa nước Việt Nam ưa tổ chức đời sống theo nguyên tắc trọng tình, nghĩa là sống hòa thuận, lấy tình nghĩa làm đầu: Tình nghĩa làng xóm, bên ngoài là lý, bên trong là tình… Từ cách tư duy tổng hợp-biện chứng cùng với nguyên tắc sống trọng tình đã dẫn tới cách tổ chức cộng đồng theo lối linh hoạt. Đó là một cách thức được vận dụng thường xuyên trong văn hóa quân sự Việt Nam, qua cách sinh hoạt khẩn trương, gọn nhẹ…; cách hành động nhanh nhẹn, kịp thời…; cách tư duy quyền biến, nhạy bén… Nghệ thuật Điện Biên Phủ là một trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, chủ trương chiến lược lúc đầu của ta là buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động chiến lược. Trong khi lúng túng, bị động đối phó, địch phải ném chủ lực xuống Điện Biên Phủ, mặc dù điều đó không nằm trong kế hoạch của chúng. Tương kế, tựu kế, ta lập tức nắm lấy thời cơ, hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở chiến trường này. Cách thức linh hoạt cũng thể hiện rõ trong nghệ thuật chiến dịch. Từ cách thức này mà ta đã có 12 ngày chuẩn bị theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", nhưng thấy không bảo đảm kết quả, ta đã kịp thời chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc", dù cho phải kéo pháo vào, kéo pháo ra, phải tiếp tục chuẩn bị thêm 46 ngày nữa. Nhưng trong 56 ngày đêm chiến đấu (từ ngày 13-3 đến ngày 7-5-1954), đến ngày cuối cùng, khi phát hiện thấy tình hình địch rối loạn, tinh thần chúng suy sụp thì quân ta lập tức nắm lấy thời cơ, tiến hành tổng công kích, và chỉ hơn hai tiếng đồng hồ sau đã nhanh chóng buộc địch phải đầu hàng, giành thắng lợi cuối cùng.
Trong phương pháp chiến thuật, ta cũng có hành động tương tự. Ai cũng biết, trên chiến địa, chiến binh thường đào chiến hào xong xuôi rồi mới vào trận, mà đào chiến hào-giao thông hào để phòng ngự là chính. Ở Điện Biên Phủ lại không như thế. Bộ đội ta đã rất sáng tạo, biến chiến hào từ "vật tĩnh" thành "vật động", thành vũ khí tiến công.
Địch phát hiện ra phản kích, tìm cách lấp kín chiến hào, bộ đội ta dùng vũ khí đánh trả. Khi địch rút quân, ta lại đào chiến hào để tiến công tiếp. Đây là một công việc được tiến hành rất tỉ mỉ, chu đáo. Bộ đội ta đã xây dựng hai loại giao thông hào: Một là loại giao thông hào trục, dùng cho việc cơ động bộ binh, pháo binh, vận chuyển thương binh, hình thành một đường vòng rộng, vây quanh trận địa ở phân khu trung tâm của địch; hai là loại giao thông hào tiếp cận của bộ binh, xuất phát từ vị trí trú quân của các đơn vị trong rừng đổ ra cánh đồng, cắt ngang giao thông hào trục, tiến vào những vị trí địch mà ta định tiêu diệt. Dọc giao thông hào bộ binh, có đầy đủ hố phòng pháo, hầm trú ẩn, hào chiến đấu và ụ súng để đối phó với những cuộc phản kích của đối phương.
Việc xây dựng hệ thống chiến hào phải tiến hành chủ yếu vào ban đêm, đào đến đâu phải ngụy trang đến đấy, và phải đồng thời triển khai trên toàn mặt trận để phân tán sự chống phá của địch. Nhưng khi các giao thông hào của ta đã vươn dài đến hàng chục ki-lô-mét trên cánh đồng thì không còn cách nào che mắt được kẻ thù. Chúng đã dùng pháo binh và không quân bắn phá suốt ngày đêm, đưa quân ra những trận địa ở gần để san lấp và gài mìn ngăn chặn việc đào tiếp. Mỗi mét đường hào ở đây không chỉ hình thành bằng mồ hôi mà còn bằng cả xương máu của các chiến sĩ ta. Với khả năng phi thường ấy, khiến cho nhiều binh lính lê dương đóng quân ở Điện Biên Phủ lúc bấy giờ, sau này kể lại rằng: Ban ngày nghe tiếng súng nổ họ không sợ bằng ban đêm, nằm dưới lô cốt nghe âm vang từ tiếng xẻng đào đất của "Quân đội Việt Minh" đang đưa chiến hào tiến lại gần, quây chặt lấy vị trí của họ, cứ tưởng chừng như có cả một "gọng kìm khổng lồ đang bóp lại". Cách làm của ta như thế đã biến hệ thống chiến hào ở chiến trường Điện Biên Phủ trở thành con dũi khổng lồ đi tới, bao vây, thít chặt lấy cổ họng quân địch, cho tới khi chúng phải hạ vũ khí, giơ cao cờ trắng đầu hàng.
Văn hóa tổ chức cộng đồng - cụ thể là công tác hậu cần - còn tạo nhiều điều kiện linh hoạt, thuận lợi cho chiến thắng Điện Biên Phủ. Trên thực tế, đọ sức với kẻ thù ở chiến trường này, tức là ta phải chấp nhận những trở lực vô cùng to lớn trong công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật cho đạo quân, gồm 43.000 người đang triển khai tác chiến hiệp đồng ở địa bàn xa các căn cứ hậu phương gần nghìn ki-lô-mét. Tình hình trên đòi hỏi việc tổ chức cung cấp phải trải rộng ra trên một không gian gồm 10 tỉnh. Yếu tố then chốt trong công tác bảo đảm hậu cần là khâu vận tải. Vướng mắc nổi cộm hơn lúc này là mạng lưới giao thông quá eo hẹp, đường đi của xe cơ giới, từ hậu phương ra tiền tuyến chỉ vẻn vẹn có đường 13 và đường 41, nhưng rất nhỏ, lại nhiều đèo dốc. Máy bay địch luôn luôn oanh tạc dữ dội vào những đoạn hiểm yếu như Đèo Khế, Pha Đin, Cò Nòi… nhằm ngăn chặn việc tiếp tế của ta. Để khắc phục những khó khăn về đường sá, các tỉnh đã huy động 20 vạn dân công, thanh niên xung phong đi phục vụ chiến dịch. Với tinh thần dũng cảm tuyệt vời "tất cả để chiến thắng", các đội quân vận tải đã chuyển lên mặt trận 25.056 tấn gạo, 165 tấn thịt, 859 tấn thực phẩm khô và 1.450 tấn vũ khí đạn dược. Như vậy, tổng khối lượng phải chuyển lên chiến hào là gần 30.000 tấn. Làm được khối lượng công việc đồ sộ đó, phải huy động tới hơn 64.450 thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến, 628 ô tô vận tải, 140 ca nô-xuồng máy, 20.991 thuyền, 500 ngựa và 21.000 xe đạp thồ. Tất cả các lực lượng vận tải đều đã vượt qua mọi gian nguy, nỗ lực phục vụ, bảo đảm tốt 3 yêu cầu nghiêm ngặt là "đủ, đúng và liên tục".
Tóm lại, qua những phần vừa trình bày, chúng ta đã thấy được Chiến thắng Điện Biên Phủ là một biểu tượng văn hóa quân sự ngời sáng, có tầm vóc thời đại, mang theo một giá trị lớn. Giá trị càng lớn thì tính nhân văn càng cao. Nó là kết quả của một nghệ thuật quân sự sáng tạo, độc đáo, nhằm giải phóng con người thoát khỏi áp bức, không chỉ riêng ở nước ta mà còn ở các nước thuộc địa trên phạm vi toàn thế giới.
DƯƠNG XUÂN ĐỐNG, Nhà nghiên cứu Văn hóa quân sự