Không chủ định tìm kiếm điều gì, vậy mà những câu thơ của Chế Lan Viên cứ níu mắt tôi lại: "Mặt bể ngoài kia bỗng sáng lòa/ Ấy bề chưa thấy của lòng ta/ Đường đi hạnh phúc xa gì mấy?/ Núi Nhỏ chờ em, Núi Lớn chờ" (Vũng Tàu nhớ và quên). Tôi cứ ngâm nga mãi câu hỏi “Đường đi hạnh phúc xa gì mấy?”. Có lẽ bởi lúc ấy tôi đang ở Vũng Tàu, nơi biển mở ra ngay trước mặt, nơi bóng núi đứng bên nhau ven con đường chạy dọc theo bờ biển như dắt ý lòng người.
Chị Đỗ Thị Thanh Thùy, Giám đốc Nhà sáng tác khu vực miền Nam thấy tôi mải nhìn ra phía biển liền chỉ tay: “Kia là Núi Nhỏ, Núi Lớn. Con đường Thùy Vân này cũng được ví von là đường hạnh phúc đấy em”. Tôi gấp cuốn thơ lại, chào chị để đi. Tôi muốn kiếm tìm con đường hạnh phúc mà câu thơ của Chế Lan Viên vừa đánh thức trong tâm trí mình.
 |
| Hòn Bà giữa biển trời Vũng Tàu. Ảnh: NGUYÊN AN |
Bên bờ kè đường Thùy Vân, mấy cụ già thong thả đạp xe. Có người dựng chiếc xe vào gốc cây rồi ngồi xuống, đung đưa đôi chân, mắt nhìn xa xa. Chẳng ai nói với ai điều gì. Trước mặt họ là biển Vũng Tàu đang cuộn sóng. Sóng nơi đây vốn mạnh, từng lớp từ ngoài khơi ào ạt xô vào bờ, tung bọt trắng rồi lại rút xuống. Gió cũng không ngừng thổi, mang theo vị mặn của biển, luồn qua những hàng cây bàng vuông bên đường rồi ùa vào phố. Chẳng phải vậy mà Vũng Tàu có mũi Nghinh Phong, nghe đã thấy trong đó tiếng gió và dáng đứng khoáng đạt của vùng đất nhô ra biển.
Tôi đi dọc đường Thùy Vân, vừa đi vừa nghĩ đến câu thơ “Đường đi hạnh phúc xa gì mấy?”. Con đường trước mắt rộng nhưng biển bên cạnh còn rộng hơn. Núi Nhỏ ở phía trước đây rồi, Núi Lớn xa hơn một chút. Vậy “đường hạnh phúc” mà nhà thơ Chế Lan Viên nói đến nằm ở đâu? Tôi chưa kịp tìm câu trả lời thì ngoài khơi gần Núi Nhỏ, một hòn đảo nhỏ hiện ra giữa màu xanh của biển. Trên đảo là Miếu Bà, hay còn gọi là Hòn Bà. Nhìn từ xa, Hòn Bà không lớn, thậm chí có phần nhỏ bé giữa biển trời mênh mông. Nhưng càng nhìn, tôi càng thấy nơi ấy có một sức hút rất lạ.
Muốn ra Hòn Bà, phải theo lối xuống Bãi Sau. Bước chân rẽ xuống biển khi buổi chiều vừa dịu nắng. Bãi cát dưới chân mềm mịn, mỗi bước đi lại phát ra tiếng lạo xạo rất khẽ. Mấy con còng gió thoắt chạy trên bãi cát, nhanh đến mức vừa nhìn thấy đã biến mất. Đám trẻ phát hiện ra liền réo nhau đuổi bắt. Chúng lao đi, cười vang, chẳng đứa nào bắt được, nhưng cũng chẳng đứa nào thất vọng. Trẻ con bao giờ cũng vậy, vô tư chạy theo những thứ đôi khi chẳng thuộc về mình. Chúng chạy chỉ để được chạy, đuổi theo một con còng chỉ để có lý do chạy trên bãi cát rộng mênh mông.
Hòn Bà có một con đường đặc biệt. Khi thủy triều rút, những phiến đá gập ghềnh nối từ bờ ra đảo dần hiện lên. Người dân và du khách có thể men theo con đường ấy để ra miếu. Nhưng khi nước lên, con đường lại chìm xuống. Hòn Bà trở về với biển, tách khỏi đất liền như thể chưa từng có con đường nào nối hai nơi lại với nhau. Hòn Bà lúc gần, lúc xa, lúc hiện rõ, lúc chỉ còn một dáng nhỏ giữa mênh mông nước biếc. Chính sự hợp tan theo con nước ấy khiến Hòn Bà mang một vẻ huyền bí rất riêng, khiến người ta không chỉ muốn nhìn mà còn muốn biết phía sau hòn đảo nhỏ kia là câu chuyện gì.
Tôi chợt nhớ đến câu chuyện của bà Thanh, người bán nước ở đầu bờ kè, đã kể cho tôi khi chỉ tay về phía Hòn Bà. Giọng bà lúc ấy chậm lại, ánh mắt thể hiện sự thành kính: “Hòn Bà thiêng lắm. Người Vũng Tàu tin Bà ở đó để che chở cho vùng đất này”. Bà Thanh kể trong nhịp điệu của những giọt cà phê lắng đọng, Miếu Bà có từ cuối thế kỷ 18, gắn với đời sống của cư dân làng Thắng Tam.
Ngày ấy, biển vừa là nguồn sống vừa là nỗi bất an. Người dân ra khơi kiếm cá nhưng chẳng ai biết ngoài kia sóng gió đang chờ đợi điều gì. Một chuyến đi biển có thể đem về đầy khoang cá nhưng cũng có thể trở thành chuyến đi cuối cùng. Trong hoàn cảnh ấy, người dân lập một ngôi miếu nhỏ thờ Thủy Long thần nữ quen gọi là miếu Hòn Bà, cầu mong mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, người đi biển được bình an và trở về với gia đình.
Trong ánh mắt của người phụ nữ bán nước bên bờ biển, Hòn Bà giống như người mẹ đứng ngoài khơi, ngày đêm nhìn về thành phố, dõi theo những con thuyền và những con người sống nhờ biển. Tôi không hỏi thêm bà Thanh về sự thực hư của câu chuyện. Bởi điều tôi nhận ra lúc ấy chính là niềm tin đã được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Hòn Bà cũng không đứng một mình trong đời sống tâm linh của người dân nơi đây. Trên những triền núi là Thích Ca Phật Đài, Niết Bàn Tịnh Xá cùng những ngôi chùa, tịnh xá trầm mặc. Trên đỉnh Núi Nhỏ là tượng Chúa Kitô Vua với đôi tay dang rộng hướng ra biển...
Nghĩ đến đó, tôi chợt nhận ra ở Vũng Tàu có một sự đan xen rất thú vị giữa phần động và phần tĩnh. Biển là phần động với sóng, gió, thủy triều và những con thuyền ra vào. Núi lại mang dáng vẻ tĩnh tại, còn những ngôi chùa, tịnh xá, miếu thờ và pho tượng trên núi dường như tạo nên những khoảng lặng giữa thiên nhiên rộng lớn. Con người đứng trước biển càng cảm nhận rõ sự nhỏ bé của mình, và chính lúc ấy, nhu cầu tìm kiếm một điểm tựa tinh thần càng trở nên sâu sắc.
Thủy triều bắt đầu rút chậm, con đường đá ra Hòn Bà hiện rõ từng đoạn, những phiến đá đen sẫm còn ướt nước biển, trơn bóng dưới ánh chiều. Tôi đang mải nhìn theo dòng người men ra phía miếu thì chợt bắt gặp một người phụ nữ đang lom khom bên mép nước. Chị dùng một chiếc cào nhỏ, nhẹ nhàng xới lớp cát ướt, rồi cúi xuống nhặt những con ngao vừa lộ ra sau mỗi nhát cào. Chị tên là Nguyễn Thị Thuận. Chị bảo chiều nay nước rút, tranh thủ xuống cào ngao, nhặt ốc. Nghề này nhìn tưởng đơn giản nhưng phải biết con nước. Nước rút đến đâu, người theo đến đó; chậm một chút là nước lên, bãi lại ngập, muốn tìm cũng chẳng còn thấy gì.
Câu chuyện của chị Thuận khiến tôi nhìn bãi biển bằng một ánh mắt khác. Phía trước, khách du lịch vẫn thong thả bước trên con đường đá ra Hòn Bà. Một bên là những bước chân du khách tìm đến ngôi miếu linh thiêng giữa biển, một bên là đôi tay của người mưu sinh đang cần mẫn tìm kiếm những sản vật nhỏ bé mà biển để lại. Hai thế giới tưởng như khác nhau lại gặp nhau trên cùng một bãi đá, cùng chờ một nhịp thủy triều. Chị Thuận bảo vài ngày nữa, khi trăng đầu tháng, thủy triều không rút sâu như hôm nay, Hòn Bà lại tách khỏi đất liền. Nhưng đó cũng là lúc cá, cua, ngao, ốc thêm béo mập. Biển cứ theo nhịp riêng mà sống như vậy.
Tôi lại nhớ đến câu thơ đã khiến mình bước ra khỏi Nhà sáng tác buổi chiều hôm ấy: “Đường đi hạnh phúc xa gì mấy?”. Có lẽ tôi đã tìm được một phần câu trả lời. Con đường hạnh phúc không nằm ở đâu xa, nó có thể bắt đầu từ một bước chân trên cát, một tiếng cười của trẻ nhỏ, một buổi chiều ngồi bên biển. Nó cũng có thể là lúc ta nghe một người phụ nữ kể về niềm tin của mình và chợt hiểu rằng phía sau ngôi miếu nhỏ là cả cộng đồng đã gửi vào đó bao nỗi lo, bao hy vọng. Có lẽ hạnh phúc chính là khoảnh khắc con người biết dừng lại, biết lắng nghe một vùng đất và nhận ra những điều tưởng nhỏ bé lại có thể mang trong mình một ý nghĩa lớn lao.
Rời Bãi Sau khi nắng chiều đã nhạt, tôi chậm bước trên đường Thùy Vân, vẫn không nỡ rời mắt khỏi mặt biển phía sau lưng. Ngoái nhìn lần nữa, tôi thấy Hòn Bà thấp thoáng giữa mênh mang con nước, lúc gần, lúc xa, như một dấu chấm lặng giữa biển trời Vũng Tàu. Trong khoảnh khắc ấy, câu thơ của Chế Lan Viên lại vang lên, như lời chào trước lúc rời xa: “Bãi Trước ta về, nhớ Bãi Sau/ Thủy triều tan hợp. Có sao đâu?/ Tình yêu đừng tính sau hay trước/ Yêu cuối còn hơn buổi gặp đầu”.