Chuyện thứ nhất, ông giám đốc Nhà văn hóa quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh, vì tình yêu, vì mong ước đem nghệ thuật truyền thống đến với công chúng hiện đại, đã tổ chức cho một gánh hát bội về biểu diễn ngay tại khuôn viên nhà văn hóa. Rạp dựng lên, để rồi chưa khai mạc đã cuốn đi. Không một khán giả nào ghé thăm, dù đó là buổi biểu diễn hoàn toàn miễn phí. Gánh hát bội cầm đồng tiền bồi dưỡng ra về mà tất thảy các nghệ sĩ đều rớt nước mắt.

 

Chuyện thứ hai, đứa con trai của anh bạn tôi mới 5 tuổi nhưng đã hát rành rọt: “Đã khuya rồi vẫn ngồi đếm sao…”.

Chuyện thứ ba, tôi được nghe kể từ một người bạn mới trở về từ Hàn Quốc. Ở đó, nhằm nâng cao trình độ thưởng thức nghệ thuật của công chúng, người ta cho phát nhạc cổ điển tại khắp các ga tàu điện ngầm. Còn nữa, Đài truyền hình trung ương Hàn Quốc có hẳn một kênh riêng suốt ngày phát các loại hình nghệ thuật truyền thống.

Ở câu chuyện thứ nhất, có lẽ là nỗi buồn của không chỉ riêng những nghệ sĩ của gánh hát bội kia. Ai chỉ cần có một chút tình yêu với nghệ thuật truyền thống của dân tộc, chắc không khỏi chạnh lòng. Nghệ thuật truyền thống của dân tộc, lẽ nào, lại bị đối xử tệ bạc nhường ấy?

Ở câu chuyện thứ hai, tôi không định bàn ca khúc “Vầng trăng khóc” đang được phát nhai nhải trên các phương tiện truyền thông đại chúng là hay hay dở. Tôi chỉ định đề cập tới việc, những tác động khách quan của nghệ thuật đối với công chúng, đặc biệt đối với lứa tuổi nhi đồng. Một đứa trẻ 5 tuổi đương nhiên chưa thể có một cái “gu” thẩm mỹ riêng. Nó như một tờ giấy trắng, cha mẹ, gia đình, xã hội vẽ lên đó cái gì thì thành cái đó. Giá như, đứa trẻ 5 tuổi kia được nghe nhạc truyền thống, hay nhạc cổ điển (không nhất thiết là những bản dàn dựng theo đúng kiểu kinh điển, mà hiện giờ trên thị trường âm nhạc có rất nhiều những đĩa nhạc cổ điển dành cho trẻ em được chơi theo kiểu bán cổ điển, rất dễ nghe), thì có lẽ, dần dà theo thời gian, nó sẽ có được một thẩm mỹ nghệ thuật sáng sủa hơn nhiều.

Câu chuyện cuối cùng gợi ý cho những nhà quản lý, những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật một cách nâng cao trình độ nghệ thuật cho công chúng. Tất nhiên, Việt Nam và Hàn Quốc có những điểm khác biệt (Việt Nam chưa có những ga tàu điện ngầm!) nhưng vấn đề là cách định hướng thẩm mỹ nghệ thuật. Nếu những thứ âm nhạc truyền thống, “bác học” nói riêng, hay nghệ thuật cao cấp nói chung, được đưa nhiều hơn tới công chúng, chắc hẳn, trình độ thưởng thức nghệ thuật (sau đó là trình độ sáng tác, biểu diễn) của số đông sẽ được nâng lên rất nhiều.

HUY QUÂN