Minh họa: Mạnh Tiến

Đêm trước, đã rất khuya, tôi vừa tắt đèn đi ngủ, chợt chuông điện thoại réo vang. Tôi vội nhấc ống nghe, ở đầu dây bên kia, một giọng đàn ông trầm đặc, ngắt từng tiếng: “Có phải mày không T, tao đây, tao Việt-Cao Bằng đây, mày nhớ không?”. Tôi hơi sững lại, nghĩ, cái thằng khỉ này, làm gì giờ này còn điện thoại. Tôi nói như gắt: “Sao không nhớ, vừa gặp nhau hôm họp mặt trung đoàn, quên sao được, có việc gì giờ này còn điện thoại hả Việt?”. Tôi chưa kịp nói xong, Việt cắt ngang, giọng tràn nước mắt: “Tao nhớ chúng nó, sắp 30-4 rồi! Chập tối tao nghe chương trình “Tìm mộ liệt sĩ” trên ti vi, mấy năm nay, tao theo dõi sát chương trình này, chưa bỏ sót buổi nào, cứ đụng đến chuyện tìm mộ liệt sĩ là tao hồi hộp xem có ai nhắc tên chúng nó không. Nhưng càng mong càng mất, tao không chịu được, bụng dạ bồn chồn không yên; rừng núi mênh mông, gai bụi um tùm, tìm ở đâu ra chỗ chúng nó nằm?”. “Bây giờ mày tính sao, hay về Hà Nội cùng tao đi tìm gia đình chúng nó, may ra có tin tức gì”. “Tính cái con khỉ, việc ấy đương nhiên là phải làm, nhưng để sau, giờ mày giúp tao một việc, tao có tiền, tao lo tuốt”. “Tiền bạc gì, mày nói đi”. “Thế này, tao muốn nhờ mấy nhà ngoại cảm tìm chúng nó. Nghe nói Hà Nội có mấy chỗ tin tưởng, mày liên hệ rồi báo lại cho tao. Tao về rủ thêm mấy thằng nữa cùng đi, cứ thử xem, chúng nó thiêng, chỉ cho chỗ mới biết mà đi tìm”. Nói xong, Việt lại khóc rức! Tôi hứa với Việt sáng sớm mai sẽ nhờ người liên hệ với nhóm ngoại cảm. Được hay không thì chỉ trời biết, nhưng chí ít nó cũng làm cho chúng tôi bớt đi dằn vặt và được an ủi…

Mấy ngày nay, không hiểu thế nào, tôi luôn có cảm giác chùng xuống, trong thẳm sâu thường trỗi dậy nhiều kỷ niệm thời trận mạc. Mấy thằng bạn chiến đấu cùng trung đoàn 52, sư đoàn 320, quân đoàn 3 của chúng tôi mà Việt nhắc đến hy sinh trong một trận đánh lớn vào căn cứ Giá Vụt, một vị trí đặc biệt quan trọng của địch, án ngữ toàn bộ phía Tây, mặt trận Quảng Ngãi, khống chế quân ta từ Kon Tum xuống, phía Bắc tiến vào. Trước lúc tấn công, một quả pháo bắn trúng đội hình trung đội của Việt, 11 người hy sinh tại chỗ, 1 người bị thương trên đường vào bệnh viện dã chiến thì tắt thở. Sau đó cả trung đoàn mù mịt cuốn vào chiến dịch lớn, cho đến ngày 30 tháng 4. Cùng thời gian đó, đơn vị tôi bước vào chiến dịch mới ở Đình Cương (Quảng Ngãi). Đình Cương là một dãy núi trùng điệp kéo dài suốt từ Đông Trường Sơn xuống gần đường một. Đây là vị trí nằm giữa miền Trung chia cắt, khống chế địch từ Sài Gòn ra và cô lập địch từ Đà Nẵng vào, vì vậy trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt, cả hai bên đều một mất một còn, chiếm bằng được lợi thế. Chiến dịch kéo dài suốt từ cuối năm 1974 đến đầu năm 1975. Đơn vị tôi nhận nhiệm vụ đánh đồn Eo Gió, nằm sát đường số 5, khống chế huyện lỵ Nghĩa Hành và thị xã Quảng Ngãi. Mờ sáng hôm ấy chúng tôi tập kết, các mũi tấn công vào vị trí. Khoảng 5 giờ 30 phút, sau loạt pháo phủ đầu kéo dài ba mươi phút, chúng tôi men theo sườn đồi  đánh thẳng vào trung tâm đầu cầu, mở đầu cho các mũi tấn công khác. Đồi Eo Gió chỉ một đại đội quân chủ lực địch chốt giữ, nhưng vì là điểm hiểm yếu nên địch xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố. Bàng, Nhu thay nhau ôm bộc phá ống tiến sát chân hàng rào nhưng chưa kịp giật kíp nổ đã hy sinh tại chỗ. Anh Thư đại đội trưởng điên tiết giằng khẩu B41 trong tay cậu tiểu đội trưởng hỏa lực, nhằm thẳng vào lô cốt địch vừa bắn vừa chửi tục “Đù má chúng mày, chết cha hết đi!”. Đúng vào lúc ấy một loạt AR15 xả tới tấp vào người Thư. Tôi ở phía sau  lồm ngồm bò lên, thấy Thư khụy xuống tôi vụt lên xối AK vào lô cốt địch. Anh Thư thấy tôi đứng bắn đạp mạnh vào cẳng chân làm tôi ngã ngửa về phía sau, giọng anh yếu ớt: “Mày muốn chết hả, nằm xuống, chưa đánh được đâu”. Phía trước, địch vãi đạn như trấu. Trận đánh kéo dài hơn hai giờ, đại đội tôi thất bại thê thảm, chết và bị thương hơn chục người, buộc phải rút về phía sau. Tới chiều, chúng tôi sốc lại đội hình, trinh sát lại thực địa, tổ chức tấn công lần thứ hai. Lần này đơn vị tôi chỉ vài người bị thương nhẹ, sau 30 phút đã làm chủ trận địa, quân địch chết và bị thương kha khá. Đêm hôm ấy, chúng tôi đưa anh Thư, Bàng, Nhu và một vài người nữa xuống một con suối cạn chôn cất. Trận chiến ngày càng ác liệt, địch phản công dữ dội khắp các điểm chốt vừa bị mất. Các cuộc tấn công vây hãm, đạn bom, pháo kích từ ngoài biển, thị xã Quảng Ngãi, Quận lỵ Nghĩa Hành, Đức Phổ… gầm rít tối trời từ sáng sớm đến đêm. Người chết chỉ kịp bó vội vào tấm tăng, tiện chỗ nào chôn chỗ ấy, không ai còn đủ thời gian ghi nhớ từng nấm mồ, từng vị trí nơi đồng đội mình yên nghỉ, vì thế mới có chuyện “Tìm mộ liệt sĩ” bây giờ. Cuối tháng 3 thì chúng tôi giải phóng thị xã Quảng Ngãi, đơn vị tiếp tục nhận lệnh đánh thẳng ra Đà Nẵng, sau đó mở cuộc hành quân như lốc cuốn vào Sài Gòn.

Sau chiến tranh, đơn vị mỗi người một nơi, cuộc sống nghèo khó, đường sá đi lại khó khăn, những người lính trận mạc ít có dịp gặp lại nhau. Nhiều người hy sinh đến nay vẫn chưa tìm thấy mộ, người may mắn được qui tụ về nghĩa trang liệt sĩ. Mấy thằng bạn của tôi và Việt tới nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Bởi vậy mà Việt đau đớn dằn vặt. Đó cũng là tâm trạng chung của tất anh em trung đoàn 52 chúng tôi, luôn bất an, thấy mình còn món nợ lớn với những thằng bạn không bao giờ trở về nữa…

Tôi viết những dòng này vào lúc nhiều địa phương, nhiều thành phố và sắp tới là cả nước kỷ niệm ngày chiến thắng 30-4. Tôi biết đã là ngày kỷ niệm, mà nhất lại là năm chẵn, ở nhiều nơi thường hay tổ chức linh đình, tốn kém nhiều tiền của mà ý nghĩa không sâu sắc. Bằng số tiền ấy, tôi nghĩ, phải bớt đi phần lớn, để giúp cho gia đình liệt sĩ cô đơn, người nghèo khó; để tu tạo lại các nghĩa trang; để tập trung thêm tiền cho những đơn vị đi tìm hài cốt đồng đội. Lễ lạt cũng là cần, nhưng chỉ nên tổ chức tiết kiệm, trang trọng và thành kính. Tổ chức rầm rộ, hoành tráng xa hoa chỉ người đứng ra tổ chức là được tiếng. Người đã chết, gia đình những người đã chết phỏng lợi lộc gì?...

Trần Anh Thái