Chững chạc để biết im lặng cất phố Bạch Đằng vào tim, để không nuối tiếc khi rời đi mà chưa kịp ngắm “mưa hồng” trên gác Trịnh và để nặng lòng... với Huế. Tôi sợ những mỹ từ của mình trở nên sáo rỗng khi Huế tự thuở nào đã là niềm thương nỗi nhớ của bao người con nước Việt. Tôi có cậu bạn, là người Huế xa xứ. Hễ mở lời lại nhắc về cố đô như một vùng trời khao khát tìm về, dù cứ phải-và mãi-dấn bước ra đi. 

Tôi gốc gác miền Trung, dù không sinh trên đất Huế cũng dễ có cảm tình với nơi này. Vì rằng cảnh sắc, con người cố đô gần gụi lắm, đằm thắm lắm, như câu “chào o” vậy. Về Huế, tôi ngồi ăn bún bò bên gánh hàng chỉ ghế không bàn trong một con hẻm, một góc chợ bất kỳ chưa kịp nhớ tên. Thế mà ngon lành như kiểu lần đầu tiên được thưởng thức bún bò trong đời vậy. Rồi chẳng ngượng ngùng: “O ơi! Cho con thêm tô nữa”...

leftcenterrightdel
Minh họa: QUANG CƯỜNG

Thú thật, tôi có ái mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, dù có thể một đời không hiểu thấu những gì ông viết. Và thành phố Huế đã cho tôi cơ hội thử "đi tìm" ông một lần nơi gác vắng. Gác Trịnh nằm nép bên bờ nam sông Hương. Một ô cửa nhỏ. Một ly cà phê không đường. Vài quyển sách làm vui. Bên ngoài là xác lá, khô khốc và sạm đi trên mái nâu của nhà bên cạnh. Tôi bỗng tin là đám lá ấy đã vắt kiệt tình yêu cho cuộc đời. Để bây giờ về với cõi thênh thang. Thế rồi tự ghép vài cái tựa quen thuộc thành vần thành điệu, rằng: “Một cõi đi về cỏ xót xa đưa/ Nghe những tàn phai bên đời hiu quạnh”. Huế cho tôi cái dáng vẻ buồn man mác khi nhận ra chính Huế và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã “ru” tôi “ngậm ngùi” đến thế.

Ra với ngày Huế đỏ lửa tháng sáu, tôi như cô gái chẳng sợ nắng trời, cứ mong mỏi được thong dong hết ngõ sớm đường chiều, ngắm cho thỏa lòng cái dìu dịu của hàng cây xanh Đại Nội, cái biêng biếc của màu tím hoa súng ven hồ và muốn thương cho bằng hết những nụ cười của người xứ Huế. Thế và, tôi đi không ngừng... Tôi đã mơ thấy mình tạm biệt một dòng sông, ngày ở Huế. Đến tận bây giờ, dù trong lòng đã biết mình thương, tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, nơi tôi đã soi bóng mình trong một chiều đổ gió. Tôi thầm nghĩ, dù dung dị hay kiều diễm thì sông Hương đã tự đặt riêng cho mình một cái tên trong lòng mỗi người thương đất Huế. 

Tôi rời đi trong một buổi chiều kín gió. Chiều ở Huế thường có niềm riêng. Tôi sợ mình không thể nhớ hết những gì mình đã từng có với nơi đây. Có phải bây giờ đã vào cuối hạ? Niềm thương Huế vào lúc chia xa dường có phần mạnh mẽ. Chuyến xe lăn bánh lúc năm giờ...

Tản văn của LỮ HỒNG