Vào nửa đầu thập niên 1980, nạn thiếu ăn, nhất là vào thời kỳ giáp hạt diễn ra ở nhiều vùng quê. Gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Nhà đông anh em, hạt gạo được ông bà, bố mẹ coi là “ngọc thực”, quý như vàng. Lúc mới gặt xong còn được ăn cơm trắng nguyên không phải độn thứ gì. Những bữa như vậy chỉ cần ăn cơm không với nước mắm hoặc muối vừng cũng thấy ngon vô cùng. Còn khi bồ lúa trong nhà vơi dần thì hạt cơm cũng sẽ ít đi mà thay vào đó là ngô, khoai, sắn, hạt bo bo.... Bốn anh em chúng tôi ở lứa tuổi choai choai, ăn không biết no là gì. Thời đó, nhà tôi cũng như bao gia đình khác trong gầm giường hay hòm đựng thóc luôn có củ khoai lang hoặc sắn nạo, sắn miếng khô để làm nguồn dự trữ. Mỗi bữa cơm bố mẹ luôn phải cân nhắc, dè sẻn từng bơ gạo bởi muốn để dành cho những ngày sau. Tôi quê ở vùng trung du nên bố mẹ trữ sắn nhiều hơn các loại lương thực khác. Ngoài rổ sắn luộc mẹ đem ra mỗi bữa ăn còn có sắn nạo, sắn khô độn cùng với cơm. Ăn mãi sắn độn cũng chán nên mẹ tôi đành phải nấu thêm canh sắn và giã sắn khô ra lấy bột làm bánh sắn, chỉ cần cho thêm chút đường vào ăn thấy lạ miệng và cũng khá ngon. Từ củ sắn mẹ tôi chế biến ra khá nhiều món ăn khiến anh em chúng tôi cảm thấy “dễ nuốt” hơn. Tôi thích nhất là món bánh sắn do chính tay mẹ tôi làm. Mỗi khi đi học về mẹ đưa cho những chiếc bánh sắn âm ấm, trắng tinh, thơm nồng mùi mật khá hấp dẫn. Cũng nhờ những món ăn dân dã, rẻ tiền này mà anh em chúng tôi đã lớn lên theo năm tháng.

Vào quân ngũ, bẵng đi hàng chục năm trời không được ăn sắn và các món ăn chế biến từ sắn, nhưng tôi vẫn nhớ về món ăn đã một thời nuôi sống nhiều gia đình ở miền quê trung du…

ĐÀO DUY TUẤN