“Năm 1960, Bác Hồ muốn có một người am hiểu về cam để giúp Bác chăm sóc những cây cam trong vườn. Thế là một cuộc tuyển chọn đơn giản mà cẩn thận diễn ra, và có hai người công nhân của Nông trường Yên Thế, nơi chủ yếu trồng cam Bố Hạ được chọn. Tôi là một trong hai người đó” – ông Hoàng Tấn Quang bắt đầu câu chuyện 9 năm phục vụ trong vườn Bác với chúng tôi như thế.

Từ người công nhân coi sóc vườn cây...

Đã gần 50 năm trôi qua, nhưng kỷ niệm về những ngày được ở Phủ Chủ tịch, được phục vụ Bác vẫn còn rõ như in trong tâm trí ông. Ông là Hoàng Tấn Quang sinh năm 1934 tại xã Cấm Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, người dân tộc Nùng. Năm 18 tuổi, do điều kiện sức khỏe không đủ để lên đường chiến đấu, ông được phân về công tác ở Nông trường Yên Thế. Ông không ngờ rằng đây lại chính là duyên cớ để có ngày ông được gặp Bác Hồ và được chăm sóc Bác. Ông kể: “Tháng 3-1960, tôi được phòng tổ chức Nông trường Yên Thế yêu cầu làm hồ sơ lý lịch. Tôi cũng không biết để làm gì, chỉ đoán là nhận nhiệm vụ mới”. Và nhiệm vụ mới mà ông chưa biết đó là vào Phủ Chủ tịch trông nom và chăm sóc vườn cây cho Bác.

Ông Quang đang xem lại những tấm ảnh chụp khi ông ở trong Phủ Chủ tịch

Ông Quang hỏi chúng tôi có hay vào thăm vườn Bác không, có bao giờ để ý đến cây dừa hai mầm ở gần bờ ao không? Cây dừa ấy là của một đoàn cán bộ tặng Bác, Bác bảo ông trồng ở cạnh bờ ao vì dừa trồng cạnh ao không cần chăm quá nhiều nhưng lại cho quả dày cùi và ngọt nước. Rồi vẫn chuyện cây, ông lại kể về cây hồng trong vườn là sản phẩm của lần Bác tiếp đoàn khách Chi-lê. Lần ấy, Bác đãi khách bằng hoa quả. Trong các quả ấy, có loại hồng rất ngon. Thấy thế, Bác dặn ông nhặt hạt, rửa sạch, đem ươm lên mầm rồi mang ra vườn trồng. Cây dừa, cây hồng ấy và cả cây đa hai giò là những cây mà ông được cùng Bác trồng và chăm nom. Đặc biệt đáng nhớ với ông là việc chăm sóc cây đa: "Lúc ấy cây đa to lắm, các giò của nó cứ tủa xuống. Anh em trong Phủ Chủ tịch thấy vướng và sợ va vào đầu nên xin Bác cho chặt đi. Bác bảo đừng chặt". Rồi Bác bảo ông lấy một chén nước nhỏ, đổ vào cái cốc, đặt cách giò đa khoảng 5cm. Khi nào giò đa dài ra thì lại dần dần đặt cốc nước cách ra. Cứ thế, cứ thế cho tới tận khi giò đa chạm xuống đất, mọc rễ mới. Lúc ấy Bác mới bảo: "Đấy là cách mang nước dụ đa đấy". Cách ấy của Bác bày cho, ông và Bác phải mất hàng năm trời mới xong nhưng kết quả thì thật tuyệt vời. Một bài học về đức tính kiên trì khắc sâu trong tâm trí ông.

Thành người chăm lo gần gũi bên Bác

Vào Phủ Chủ tịch chăm sóc vườn cây cho Bác, đến năm 1964 ông Quang được cử vào tổ 9 người trực tiếp phục vụ Bác. Nhiệm vụ của ông lúc này là ra vào lo việc ăn uống, pha trà, dọn dẹp bàn giấy, tài liệu, sách báo và làm những công việc Bác cần. Ông và anh em phục vụ thường được ăn cơm cùng Bác. Ông còn nhớ: Bác thích ăn các món dân gian như rau sống, cà ghém, canh cua, cá… Thỉnh thoảng anh em tổ chức bắt cá rô trong ao làm bữa cải thiện nấu canh cá rô ăn cùng cà ghém, Bác đều khen ngon. Nhưng bao giờ Bác cũng dặn mọi người bắt cá vừa đủ dùng, nấu vừa đủ ăn và đã nấu ra thì phải ăn cho hết. Nếu có nhiều món thì ăn món nào hết món đó, món khác chưa ăn đến nên để nguyên, đừng ăn lãng phí mỗi món một tý. Mỗi khi có ai đi vắng không về kịp, Bác dặn để dành phần ngon, xếp ra một đĩa mới, gọn gàng.

Ngoài chuyện trồng cây, chuyện ăn uống, ông Quang còn thuộc nhiều thói quen sinh hoạt của Bác. Ông kể rằng trước kia giá sách của Bác để các tài liệu quan trọng, hay dùng sách và các luận cương chính trị. Bác sắp xếp giá sách gọn gàng, để riêng từng loại tài liệu. Hay chuyện giường nằm ông cũng nhớ Bác có thói quen trải chiếu cói lên trên đệm. Rồi ông bồi hồi: “Cả chuyện đi dép của Bác tôi cũng không thể quên. Trước khi Mỹ đánh phá miền Bắc, khi lên nhà sàn Bác thường đặt dép quay vào trong nhà; từ khi miền Bắc bị máy bay Mỹ ném bom, Bác đặt mũi dép quay ra ngoài. Bác làm việc gì cũng có suy tính trước sau cẩn thận, từ những việc nhỏ nhất như vậy".

Trong 9 năm ở Phủ Chủ tịch (6 năm trực tiếp phục vụ Bác), ông Quang luôn hoàn thành nhiệm vụ, được bình bầu là lao động tiên tiến. Trong tập kỷ vật ông còn lưu giữ có những tấm giấy chứng nhận lao động tiên tiến 6 năm liền do Bộ trưởng Trần Hữu Dực ký năm 1967, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng về thành tích phục vụ Bác Hồ, những tấm thiếp chúc Tết của Bác từ năm 1966, những tấm ảnh ông và anh em chụp chung với Bác và các đồng chí lãnh đạo Đảng… Tất cả được ông gìn giữ cẩn thận, bọc nhiều lớp giấy ni-lông. Trong số những kỷ vật ấy, ông quý nhất là bức ảnh chụp ông và hai đồng chí Cù Văn Chước, Lê Văn Cần (các đồng chí làm việc bên Bác) đứng túc trực bên linh cữu Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc Người đi xa và ba kỷ vật: chiếc thìa nhỏ và dĩa ăn Bác tặng ông năm 1966, chiếc bếp đèn cồn dùng nấu ăn cho Bác năm 1965. Ba kỷ vật ông đã hiến tặng Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, còn bức ảnh, ông vẫn đặt ở tủ giữa ở nhà, ngày ngày thắp hương nhớ Bác.

Sau khi Bác mất, ông được phân công sang phục vụ Bác Tôn; đến năm 1971 thì trở lại Nông trường Yên Thế tiếp tục công tác. Nhớ những lời dạy của Bác, dù ở cương vị công tác nào ông cũng cố gắng hết lòng, luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đã có 10 năm liên tục làm Bí thư chi bộ Đảng thôn Tân Hồng cho đến tận lúc nghỉ mất sức (1981). Tính đến nay, ông đã có hơn 40 năm tuổi Đảng và 74 năm tuổi đời, nhưng với ông, khoảng thời gian 9 năm sống ở Phủ Chủ tịch, được phục vụ Bác và được Bác dạy bảo là khoảng thời gian ý nghĩa nhất trong cuộc đời.

Ông tâm sự: Nhiều năm trước, ông cũng đã từng ra thăm Hà Nội, thăm đồng chí Vũ Kỳ và các anh em. Nhưng lâu nay, sức khỏe đã yếu dần, ông không đi một mình được, không ra viếng Bác được. Ông muốn được ra thăm lại một lần Phủ Chủ tịch, nhà sàn, Lăng Bác, thăm cây dừa hai mầm ở cạnh ao trong vườn Bác xem nó có ra quả nhiều không, cây đa hai giò đã lớn bằng chừng nào? cây hồng được gieo hạt khi tiếp đoàn khách Chi-lê không biết có sai quả… Ông hỏi chúng tôi có hay vào thăm nhà sàn Bác không, đôi dép của Bác bây giờ được đặt thế nào?… Dường như những hành động của Bác, những câu chuyện của Bác vẫn còn tươi nguyên, sống động trong lòng ông.

Bài và ảnh: PHẠM THÀNH HUYÊN