Được thừa hưởng truyền thống yêu nước của quê hương và gia đình, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1937 khi mới 17 tuổi, đồng chí tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Tháng 5-1938, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Đồng chí luôn bám dân, bám địa bàn, hoạt động và xây dựng phong trào cách mạng ở cơ sở từ tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, đến Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước.

leftcenterrightdel
Đại tướng Lê Đức Anh. (Nguồn: Báo Nhân Dân).

Tiểu sử về đồng chí được Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam khái quát, đồng chí tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam từ tháng 8-1945. Trong kháng chiến chống Pháp, từ năm 1948-1950, đồng chí được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8 và Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn.

Từ năm 1951-1954, đồng chí giữ chức vụ Tham mưu phó, quyền Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Mỹ, tháng 5-1955, đồng chí được cử giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực - Bộ Tổng Tham mưu, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (năm 1963-1964). Trong giai đoạn từ năm 1964 đến 1975, trên cương vị là Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh miền Nam, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh miền Nam, Tư lệnh Khu 9, Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam, đồng chí đã trực tiếp tham gia và chỉ huy nhiều chiến dịch lớn, góp phần cùng quân và dân ta giành nhiều thắng lợi có tính chiến lược, góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 1974, đồng chí là một trong hai sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được thăng quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng.

Cuộc đời binh nghiệp của đồng chí gắn với nhiều chiến trường từ Bắc vào Nam và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả. Trong cuộc chiến đấu Bảo vệ biên giới Tây Nam, đồng chí là một trong những tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến trường và giành nhiều thắng lợi quan trọng, bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng. 

Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, đồng chí được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng, như: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (năm 1981); Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (năm 1986); Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (năm 1987-1991). Đồng chí được thăng quân hàm Đại tướng năm 1984.

Tháng 9-1992, đồng chí được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bầu vào chức vụ Chủ tịch nước và giữ chức danh này đến năm 1997. Sau đó, đồng chí được bổ nhiệm làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12-1997 đến khi nghỉ hưu năm 2001.

Là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt tiêu biểu của Đảng, dù ở cương vị nào, đồng chí cũng mang hết nhiệt huyết đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào những vấn đề lớn của đất nước. Đồng chí không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn thể hiện rõ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc và nhân dân lên trên hết. Đại tướng Lê Đức Anh là một nhà chính trị, nhà quân sự tài năng; một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại tướng Lê Đức Anh qua đời vào ngày 22-4-2019 tại nhà Công vụ trên phố Hoàng Diệu, Thành phố Hà Nội. Với 99 năm tuổi đời, hơn 80 năm tuổi Đảng, Đại tướng Lê Đức Anh đã trọn đời phấn đấu, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta. Đồng chí đã được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.

QUỲNH TRANG (tổng hợp)