Bản lĩnh của Việt Nam trước hết được thể hiện qua khả năng "biến nguy thành cơ" và sức chống chịu kiên cường trước những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới. Nhìn lại nhiệm kỳ 2020-2025, đất nước đã phải đối mặt với những thách thức "chưa từng có tiền lệ", đó là đại dịch Covid-19, là sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, thiên tai bão lũ và những bất ổn địa chính trị phức tạp.
Trong bối cảnh đó, bản lĩnh Việt Nam không chỉ là sự chịu đựng, mà là sự chủ động vượt qua. Chúng ta đã thực hiện thành công "mục tiêu kép", vừa chống dịch vừa phục hồi kinh tế, giữ vững ổn định vĩ mô. Bản lĩnh ấy còn được thể hiện qua quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã chuyển sang một giai đoạn mới, gắn liền với chống lãng phí, với tinh thần "không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm". Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, việc làm trong sạch bộ máy không làm cản trở phát triển mà ngược lại, là để kiến tạo một môi trường lành mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm.
Đặc biệt, bản lĩnh Việt Nam trong kỷ nguyên mới được minh chứng rõ nét qua "cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy", thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp lại hệ thống chính trị theo hướng "tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả". Chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng mới có thể thực hiện được những cải cách hướng tới lợi ích của quốc gia và dân tộc.
 |
| Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới. Ảnh minh họa: vov.vn |
Nếu bản lĩnh giúp chúng ta đứng vững, thì trí tuệ là ngọn đuốc soi đường để bứt phá. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không thể dựa trên những cách làm cũ, mà phải dựa trên trí tuệ, tri thức và đổi mới sáng tạo.
Thứ nhất, trí tuệ thể hiện ở tư duy đột phá về thể chế, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV đã xác định việc hoàn thiện thể chế là "đột phá của đột phá" để chuyển mạnh từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo phát triển", dứt khoát từ bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Trí tuệ ở đây là việc xây dựng một hành lang pháp lý thông thoáng, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, khơi thông mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.
Thứ hai, trí tuệ thể hiện ở việc lựa chọn động lực tăng trưởng mới. Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới, trong đó tập trung vào các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghiệp dữ liệu. Đây là sự lựa chọn rất quan trọng để Việt Nam đi tắt đón đầu, tránh bẫy thu nhập trung bình và vươn lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba, trí tuệ trong việc phát triển nguồn lực con người. Nghị quyết số 71-NQ/TW về giáo dục đào tạo đã khẳng định mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có năng lực tư duy độc lập và khả năng thích ứng với kỷ nguyên số. Trí tuệ Việt Nam không chỉ nằm ở những tấm bằng, mà ở năng lực thực tế, ở đội ngũ doanh nhân được đề cao trong Nghị quyết 68-NQ/TW và đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tầm nhìn quốc tế với khẳng định: “Khát vọng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trước hết phải được đo bằng những điều rất đời thường: Người dân có việc làm tốt hơn không, thu nhập có ổn định hơn không; có chỗ ở “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không; con cái học hành có thuận lợi hơn không, bệnh tật có được chăm sóc tốt hơn không, người già có được nương tựa không, vùng khó khăn có được trợ giúp kịp thời không... Và muốn mọi cái đều “hơn” thì chúng ta phải coi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực then chốt của mô hình tăng trưởng mới; đồng thời phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.”
Sức mạnh của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam không nằm ở một cá nhân hay một nhóm người, mà là sự hội tụ của khối đại đoàn kết và niềm tin của toàn dân tộc. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: "Đoàn kết không chỉ là một khẩu hiệu hay một lời kêu gọi. Đoàn kết phải trở thành cách ứng xử của cả hệ thống và của mỗi người Việt Nam: Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết giữa ý Đảng và lòng dân; biết đặt việc chung lên trên, biết gác cái riêng lại khi cần. Và cùng với đoàn kết là niềm tin: Tin vào con đường mình đã chọn, tin vào sức mạnh của dân tộc, tin rằng điều tốt đẹp sẽ đến nếu chúng ta làm việc bền bỉ và vì nước, vì dân". Chúng ta mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cấp quan hệ với các đối tác lớn, biến Việt Nam thành điểm đến tin cậy của hòa bình và hợp tác.
Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc là kết quả của 40 năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên trì công cuộc Đổi mới, là sự kết tinh của công sứ và trí tuệ của bao thế hệ cha anh. Việt Nam đang tự tin bước vào vận hội mới của sự phồn vinh, hạnh phúc. Bản lĩnh giúp chúng ta không chùn bước trước khó khăn, trí tuệ giúp chúng ta tìm ra con đường ngắn nhất để đi đến đích. Sự hòa quyện giữa bản lĩnh chính trị vững vàng và trí tuệ thời đại sắc bén, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự đồng lòng của nhân dân, chắc chắn sẽ đưa con thuyền Việt Nam vươn ra biển lớn, sánh vai với các cường quốc năm châu, hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong đợi.