Tiếp sức tới ASIAD 20

ASIAD 20 diễn ra từ ngày 19-9 đến 4-10. Đoàn thể thao Việt Nam (TTVN) tham dự với 498 thành viên, trong đó có 348 VĐV, tranh tài ở 33 môn và phân môn, phấn đấu giành trên 4 huy chương vàng. Đặc biệt, có tới 155 thành viên, tương đương với 31% lực lượng của Đoàn TTVN tham dự bằng kinh phí do các địa phương, liên đoàn, hiệp hội chủ động bảo đảm. Đây là cách làm phù hợp với yêu cầu huy động tổng hợp nguồn lực cho thể thao thành tích cao.

Bên cạnh đó, trước khi tham dự ASIAD 20, các VĐV Việt Nam còn nhận được những khoản treo thưởng lớn. Theo Liên đoàn Võ thuật tổng hợp Việt Nam (VMMAF), mức treo thưởng dành cho VĐV đoạt mỗi tấm huy chương vàng, bạc, đồng tại ASIAD 20 lần lượt là 500 triệu đồng, 200 triệu đồng và 100 triệu đồng (chưa bao gồm khoản thưởng theo quy định của Nhà nước). Trước đó, sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2025 với thành tích 2 HCV, 1 HCB, 2 HCĐ, VMMAF đã trao mức thưởng kỷ lục cho mỗi tấm huy chương vàng, bạc, đồng, gồm: 200 triệu đồng, 60 triệu đồng và 30 triệu đồng.

Nữ võ sĩ Lò Thị Phung đã thi đấu hết mình ở môn võ thuật tổng hợp tại ASIAD 20. Ảnh: BÙI LƯỢNG

Niềm khích lệ VĐV còn đến ở nhiều môn thể thao khác trước thềm ASIAD 20. Liên đoàn Bắn súng Việt Nam treo thưởng cho các VĐV giành mỗi huy chương vàng, bạc, đồng lần lượt là: 200 triệu đồng, 100 triệu đồng và 50 triệu đồng. Trong khi đó, mức thưởng dành cho VĐV môn thể dục dụng cụ đoạt huy chương vàng, bạc, đồng ở ASIAD 20 được Liên đoàn Thể dục Việt Nam công bố, gồm: 100 triệu đồng, 50 triệu đồng và 20 triệu đồng...

Cùng với các khoản thưởng ở liên đoàn, hiệp hội công bố, các VĐV đoạt thành tích ở ASIAD 20 cũng sẽ nhận thêm nhiều khoản thưởng. Theo ông Nguyễn Danh Hoàng Việt, Cục trưởng Cục Thể dục TTVN (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), mỗi huy chương vàng dự kiến được thưởng nóng 100 triệu đồng, huy chương bạc 50 triệu đồng và huy chương đồng từ 20 đến 30 triệu đồng. “Đây là mức thưởng dự kiến ban đầu, có thể nhiều hơn tùy vào nguồn lực xã hội hóa. Chúng tôi luôn chào đón doanh nghiệp, nhà tài trợ đầu tư cho TTVN, mang tới cho VĐV nguồn động viên cả về vật chất và tinh thần để cống hiến vì màu cờ sắc áo”, ông Nguyễn Danh Hoàng Việt nói.

Cùng chung tay phát triển thể thao Việt Nam

Cùng với những chế độ, chính sách dành cho huấn luyện viên, VĐV ngày được cải thiện, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc ưu tiên phát triển thể dục, thể thao (TDTT) dựa vào các nguồn lực xã hội. Một trong những dấu mốc quan trọng là Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (năm 1993), khi Ðảng ta xác định chủ trương huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển các lĩnh vực văn hóa-xã hội. Ðặc biệt, vào năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao. Ðây được xem là văn bản mang tính nền tảng, xác lập rõ chủ trương huy động các nguồn lực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.

Tiếp đó, năm 2006, Luật TDTT lần đầu tiên tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho sự phát triển của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp và các mô hình kinh doanh dịch vụ thể thao. Tiếp đó, Nghị định số 69/2008/NÐ-CP ngày 30-5-2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đã đưa ra nhiều cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế và tín dụng đối với các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực TDTT.

Ðến năm 2018, Luật TDTT sửa đổi tiếp tục bổ sung các quy định liên quan đến thể thao chuyên nghiệp, kinh doanh thể thao và huy động nguồn lực xã hội. Gần đây nhất, Kết luận số 70-KL/TW ngày 31-1-2024 của Bộ Chính trị về phát triển TDTT trong giai đoạn mới cùng Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được phê duyệt ngày 15-10-2024 đã đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới cơ chế huy động nguồn lực xã hội, phát triển kinh tế thể thao và công nghiệp thể thao như những động lực tăng trưởng mới.

Sau hai thập kỷ, hệ thống chính sách về xã hội hóa thể thao đã từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho sự tham gia ngày càng sâu rộng của khu vực ngoài công lập. Những năm qua, một số liên đoàn, hiệp hội đã hoạt động tương đối hiệu quả, có mạng lưới hội viên ở nhiều tỉnh, thành phố trên toàn quốc, kết nối, tổ chức các hoạt động phong trào của môn thể thao tương đối tốt, tự chủ 100% kinh phí hoạt động, như các liên đoàn bóng đá, bóng chuyền, võ thuật tổng hợp, yoga, cầu lông, bóng rổ, billiards...

Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu xây dựng nền thể thao phát triển toàn diện, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế. Ðể đạt được mục tiêu đó, xã hội hóa tiếp tục là chìa khóa quan trọng. Tuy nhiên, nhiệm vụ của giai đoạn tới không còn đơn thuần là huy động thêm nguồn lực ngoài ngân sách. Ðiều cần thiết hơn là tạo dựng môi trường để các nguồn lực ấy phát huy hiệu quả cao nhất, thông qua cải cách thể chế, phát triển kinh tế thể thao, thúc đẩy chuyển đổi số và hình thành các mô hình hợp tác công-tư hiện đại. Đánh giá về vai trò của các nguồn lực xã hội đối với sự phát triển thể thao thành tích cao Việt Nam, ông Nguyễn Hồng Minh, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Olympic Việt Nam, nguyên Trưởng đoàn thể thao Việt Nam nhấn mạnh: “Thực tế cho thấy bất cứ ngành nghề, lĩnh vực nào có được sự góp sức đầu tư của nguồn lực xã hội, cộng đồng doanh nghiệp đều mang lại kết quả xứng tầm. Thể thao cũng vậy, nhất thiết phải xã hội hóa sâu rộng theo đúng xu thế quốc tế hiện nay”.