Cầu truyền hình công bố báo cáo môi trường kinh doanh 2009 của WB.

Báo cáo môi trường kinh doanh 2009 do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố sáng 10-9, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 92 về mức độ môi trường kinh doanh thuận lợi. Trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 5.

Chỉ có một lĩnh vực được ghi nhận

Tuy nhiên, nếu như năm ngoái Việt Nam có hai lĩnh vực cải cách được ghi nhận thì Báo cáo năm 2009 chỉ ghi nhận một lĩnh vực cải cách duy nhất là hệ thống đăng ký thông tin tín dụng công, với kết quả xếp hạng ở vị trí 43, trên vị trí 59 của Trung Quốc, 68 của Thái lan, 109 của In-đô-nê-xi-a…Trong Báo cáo, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm nước còn yếu trong việc bảo vệ nhà đầu tư (170/181). Việc giải thể doanh nghiệp cũng còn gặp nhiều khó khăn (124/181). Trong lĩnh vực đóng thuế, Việt Nam vẫn chỉ xếp vị trí 140/181 quốc gia. Ngoài ra, Việt Nam chỉ xếp hạng trên trung bình (67/181) trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

Điểm đáng lưu ý là Báo cáo của WB xếp hạng không tính các yếu tố “nút thắt cổ chai” của nền kinh tế Việt Nam như cơ sở hạ tầng, nhân lực, thể chế, lạm phát, thâm hụt ngân sách... Ngay cả lĩnh vực tín dụng được ghi nhận cải cách nhưng chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, thực tiễn bức tranh tín dụng ở Việt Nam khác rất nhiều so với xếp hạng của WB. “Ngay cả những chỉ số được xếp hạng cao hoặc lên hạng cũng không nên chủ quan, tự mãn”, bà Lan nói. Theo bà, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới nếu không có những cải thiện cơ bản như về tín dụng cho doanh nghiệp.

Một điểm lưu ý là, trong khi nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam gia tăng mạnh mẽ, nhưng Việt Nam không được xếp hạng cao về bảo vệ nhà đầu tư, đứng thứ 137/181 các nền kinh tế. Bà Ri-ta Ra-man-hô, tác giả chính Báo cáo năm 2009 của WB lý giải hai việc này không liên quan đến nhau, vì nhiều nhà đầu tư vẫn có thể đến các nước chưa có bảo hộ đầu tư. Nhưng ông Huỳnh cho rằng, Việt Nam cần xem xét nguồn gốc và chất lượng các dự án đầu tư FDI đổ vào Việt Nam thời gian qua hơn là quan tâm đến số lượng gia tăng.

Ta “chạy” nhưng nước khác “chạy” nhanh hơn?

Nhìn vào chỉ số xếp hạng của Việt Nam, có những thay đổi tốt hơn nhưng thứ hạng của Việt Nam vẫn tụt. Về điều này, bà Phạm Chi Lan nhận định, thực tế những cải cách vẫn đang diễn ra ở Việt Nam nhưng các nước khác trong khu vực, nó diễn ra nhanh hơn và làm cũng tốt hơn. Theo bà Chi Lan, đây là điều Việt Nam phải suy nghĩ. Chẳng hạn, ở mục xếp hạng xuất khẩu, Việt Nam đứng thứ 67 trên toàn cầu nhưng so với các “đối thủ cạnh tranh chính” trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, hay nhóm các nước ASEAN khác, Việt Nam lại cạnh tranh kém hơn. Một trong những nguyên nhân là chi phí cho một công-ten-nơ xuất khẩu hoặc nhập khẩu từ Việt Nam cao gấp đôi so với Trung Quốc.

Việc xếp hạng bậc 92 về mức độ thuận lợi môi trường kinh doanh được coi là sự thụt bậc mà như ông Trần Hữu Huỳnh, Ban Pháp chế của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) bình luận: “Việt Nam đứng đầu nhóm các nước nửa cuối so với năm ngoái được xếp hạng đứng cuối của nhóm các nước nửa đầu”. Từ những nghiên cứu trong Báo cáo của WB, ông Huỳnh cho rằng, thường các quốc gia cải cách nhiều nằm trong các nền kinh tế chuyển đổi. Ông Huỳnh nhìn nhận rằng, nguyên nhân của sự việc là do không gian cải cách rất lớn nhưng Việt Nam chưa tiếp cận mạnh mẽ không gian đó bằng các nước trong khu vực khác.

Theo bà Phạm Chi Lan, tuy hữu ích nhưng Báo cáo của WB cũng có hạn chế là chỉ dựa trên thông tin hẹp, bỏ qua nhiều yếu tố. Bà dẫn ra một trong những điểm sáng của môi trường kinh doanh Việt Nam là cải cách về thủ tục đăng ký khởi sự doanh nghiệp đã bị WB “bỏ qua”, hay thủ tục đăng ký kinh doanh qua mạng áp dụng ở thành phố Hồ Chí Minh từng được WB ghi nhận cách đây hai năm như một tiến bộ cũng bị bỏ trong báo cáo mới này. Về bảo vệ nhà đầu tư, dù việc thực thi có thể chưa tốt nhưng nếu căn cứ vào quy định pháp luật thì WB nên ghi nhận có những bước tiến ở Việt Nam. Ngoài ra, nếu chỉ tham vấn thông tin từ các hãng luật nước ngoài ở Việt Nam sẽ không bao quát hết vì khách hàng của các hãng này chỉ có các nhà đầu tư nước ngoài chứ không bao gồm các doanh nghiệp Việt Nam.

Bài và ảnh: THU TRANG