 |
| Nữ công nhân cao su dân tộc Khạ ở công ty cao su liên doanh Việt -Lào |
Trong cuộc đời, những người lính Tình nguyện quân Việt
Nam chúng tôi đã đến chiến đấu đánh Pháp, chống Mỹ khắp đất nước Lào. Nhân dân các bộ tộc Lào đã che chở đùm bọc, chăm sóc, nuôi dưỡng chúng tôi. Đồng đội Pa-thết Lào đã kề vai sát cánh cùng chung chiến hào với chúng tôi suốt trong những tháng năm dài kháng chiến.
Riêng tôi có nhiều kỷ niệm với Nam Lào. Những lần đến với Nam Lào đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tôi. Tôi nhớ nhiều nhất là những chuyện gắn bó với dòng sông Mè-nặm-khoóng - Người Lào gọi là sông Mẹ. Người Việt gọi là sông Mê Công.
Mê Công nổi sóng
Mùa đông giá lạnh năm 1953, chúng tôi theo chiến dịch Trung, Hạ Lào chuẩn bị phối hợp với Mặt trận Thượng Lào và Điện Biên Phủ. Sau khi giải phóng một phần Trung Lào, Tình nguyện quân Việt Nam tiến về Hạ Lào. Đến Sa-lã-văn, cao nguyên Bô-lã-vên, áp sát đánh các đồn bót Pháp ven hai bờ sông Mê Công ở Mường Mun, Úp-thùm-phon, Đon Ta-lạt, Sô-cu-ma, Huội-phày, vùng Pạc-xế, Chăm-pa-xắc, Phìa-phay… Chúng tôi đã hành quân qua các bản làng xác xơ, bị giặc đốt cháy nham nhở. Nhiều bà mẹ, chị em phụ nữ, cả các em gái còn tuổi thiếu nhi đã bị giặc hiếp, giặc giết. Đêm chúng tôi qua đảo Mặc Mị, vượt sông Mê Công đánh cụm giặc ở Vặt Phụ. Hàng trăm chiếc thuyền của dân các làng bản ven sông, của du kích và bộ đội địa phương đến đón chúng tôi. Tiếng mái chèo, tiếng sào quẫy nước nghe ầm ầm như Mê Công nổi sóng. Dòng sông đã lặng trôi, đã nén uất hận vào lòng, nay có quân tình nguyện kéo đến chung lòng chung sức đánh giặc, sóng sông như cũng biết reo vui, muốn nổi những cơn giận dữ dâng lên, trào lên nhấn chìm quân thù.
Điện Biên Phủ toàn thắng. Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh, chúng tôi kéo quân về nước. Lại đến bến vượt sông ở Đon Mặc Mị. Hàng trăm chiếc thuyền độc mộc do các cô gái chèo thuyền đã chờ sẵn. Cứ mỗi thuyền chỉ chở được ba chiến sĩ. Khi thuyền rời bến ra giữa sông, một tình huống bất ngờ xảy ra: Các cô gác mái không chịu chèo nữa và ngồi khóc. Trái tim lính sắt đá vậy mà chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Một giai điệu buồn vẳng bên tai tôi:
Đến giờ chia tay rồi
Em gái nước Lào ơi
Thôi anh về, em nhé
Mắt em vẫn đầy lệ
Nức nở với dòng sông
Anh về rồi ở mãi
Xa em, xa nước Lào…
Nước mắt
tiễn đưa
Nhưng tôi không ở mãi Việt Nam và không quên nước Lào. Bốn mươi năm sau buổi đưa tiễn đầy nước mắt ấy, tôi đã trở lại bến sông Mê Công ở Đon Mặc Mị. Đại tá A-nông và bác sĩ Bun Tơm đã đưa tôi đến bản Tha Muông, nơi Tình nguyện quân đã từng sống rất lâu với dân làng. Những cô gái chèo thuyền đưa chúng tôi sang sông xưa, nay đã trở thành các bà mẹ. Tôi bỗng nhớ những nàng hoa khôi của bản xưa như Bua-ly, Xeng Khăm, Na-ly-văn… người còn, người mất vì bom Mỹ, vì bệnh tật, vì tuổi già. Một cô gái tên là Lát-xa-mi đẹp nhất làng, là đội trưởng du kích bí mật đã cho toàn đội tám cô giấu gạo, thuốc bệnh và muối trong người vượt qua đồn bót Pháp đưa vào rừng nuôi đội trinh sát của chúng tôi đang bị vây. Tôi đưa mắt tìm trong số người làng đang ngồi xúm quanh và chợt hỏi: “Lát-xa-mi đâu?”. Mọi người chỉ ngay bà lão ngồi cạnh tôi. “Trời ơi! Lát-xa-mi đây à?”, một giọng run run nói mà như nấc: “Anh Xôm Bun” (tên Lào của tôi). Mọi người bỗng bỏ tôi ngồi lại với Lát-xa-mi. Lát sau họ quay trở lại với hai tay mang theo dừa, xoái, típ xôi, rượu, gà, cá… ai có gì thì mang nấy đến đãi chúng tôi. Một bà hơn tám mươi tuổi, tóc bạc trắng, đến chỉ vào tôi và hỏi: “Con có phải là con trai thằng Xôm Bun. Có phải Xôm Bun bảo con trở lại thăm làng này?”. Tôi chợt nhớ ra bà Pha-Trưởng Hội mẹ chiến sĩ ngày xưa. Tôi đứng lên, ôm lấy mẹ và nói: “Chính con đây. Xôm Bun đây mẹ ơi”. Bà Pha ôm tôi, giọng nghẹn ngào: “Đúng là Xôm Bun của mẹ rồi! Hơn bốn chục năm nay mong tin các con, mẹ chỉ sống với xương cốt của 17 đứa hy sinh quanh làng. Hằng ngày thắp hương thăm viếng chúng nó. Bây giờ anh em Việt Nam qua cất bốc mang hài cốt về hết rồi, linh hồn chúng nó không còn quanh quẩn ở đây. Mẹ thấy trống vắng quá”. Nói rồi, mẹ Pha ngồi lặng lẽ lau nước mắt.
Bữa cơm trưa ở Tha Muông kéo dài đến bốn giờ mà chuyện Việt-Lào sau 40 năm xa cách vẫn không sao nói hết. Nắng chiều đã tắt, chúng tôi đành lòng phải chia tay. Sau lễ Ba-xi buộc chỉ chúc phúc và tiễn đưa, các bà nội; bà ngoại đã cho mấy chục cháu gái tuổi mười tám, đôi mươi đưa chúng tôi xuống thuyền qua sông. Đúng là hình ảnh của Lát-xa-mi, Bua-ly, Xeng Khăm, Ma-ni-văn – Những cô gái đẹp của làng Tha Muông 40 năm trước. Khi chúng tôi bước lên bờ, nói lời tạm biệt, các cháu gái bỗng bật khóc.
Những giọt nước mắt tiễn đưa hôm nay làm tôi nhói lòng nhớ lại ngày xưa. Tôi cũng không hiểu vì sao các cháu gái sinh sau đẻ muộn, chẳng biết chúng tôi là ai mà đã xem chúng tôi như người ruột thịt và sụt sùi nước mắt tiễn đưa. Tình cảm Việt-Lào như một sự bí ẩn nào mà chính tôi cũng không tự lý giải được.
Hòa nhịp cùng sóng vỗ
Bây giờ, tôi trở lại Nam Lào qua đoạn sông Mê Công ở Chăm-pa-xắc. Ngày xưa mỗi lần đi trinh sát bám sát các đồn địch, chúng tôi phải bơi vượt sông sợ cá sấu đớp, đến thót tim. Muốn chống lại cá sấu phải chặt cây chuối đóng bè. May mắn thì được du kích chở qua sông bằng thuyền độc mộc, nhưng cũng suýt chết đến mấy lần vì canô Pháp đuổi bắn. Lần này qua sông bằng xe Mercedez, vượt cầu đúc hiện đại do bác sĩ Hảo-ít-đăng lái. Ông Hảo có người vợ là bà Lượng, Giám đốc công ty xuất nhập khẩu Đào Hương. Cặp vợ chồng người Lào gốc Việt này là triệu phú đô-la Mỹ trên đất Lào. Nhiều các cửa hàng miễn thuế ở các cửa khẩu Việt – Lào – Thái – Cam-pu-chia đều của gia đình Đào Hương. Ông Hảo là giám đốc nông trường cà phê của gia đình. Cà phê Đào Hương trồng khắp vùng Pạc-xoong thuộc cao nguyên Bô-lã-vên có đến mấy trăm héc-ta, có ba nhà máy chế biến, mỗi năm xuất sang thị trường châu Âu hơn một nghìn tấn cà phê Arabica thành phẩm ngon nổi tiếng. Khi thăm vùng trồng cà phê, xe chạy mấy giờ liền mới đi hết diện tích cà phê Đào Hương. Tôi kể với ông rằng trên vùng đất này, thời đánh Pháp, đánh Mỹ, bộ đội Lào-Việt phải hy sinh hàng nghìn người để giành lại từng tấc đất với giặc. Ông Hảo ngậm ngùi nói: “Chúng tôi làm ăn và trở thành giàu có ở đây, không bao giờ quên ơn những người đã ngã xuống, đã đổ máu mới có ngày hôm nay”.
Ông Hồ Văn Ngừng, giám đốc công ty cao su liên doanh Việt-Lào cũng có ý nghĩ như ông Hảo. Ông Ngừng cho biết nhiệm vụ hàng đầu để phát triển cây cao su là chăm lo thật tốt đời sống của công nhân Lào. Phải lo cho họ có nhà ở, có đất trồng xen hoa màu trong vườn cao su mới, có đồng lương xứng đáng, có áo quần, giày nón, thuốc men chữa bệnh đầy đủ. Đặc biệt là chăm sóc hơn bảy trăm đồng bào dân tộc Khạ, phải làm cho cuộc sống của họ được cải thiện, đổi đời. Đó là cách đền ơn đáp nghĩa các liệt sĩ và đồng bào đã hy sinh cho nền độc lập của hai nước Việt-Lào.
Nền kinh tế của Lào đang phát triển từng ngày. Nhiều đoàn bác sĩ, kỹ sư trồng trọt, chăn nuôi và thanh niên tình nguyện từ Thành phố Hồ Chí Minh kết nghĩa đã lần lượt đến giúp đỡ, chi viện cho tỉnh Chăm-pa-xắc. Đứng bên dòng sông Mê Công, vọng lại tiếng hát của thanh niên Việt-Lào đang đắp đập xây kè vang lên từ hai bờ sông, hòa nhịp cùng sóng vỗ. Dòng sông vẫn êm đềm trôi minh chứng muôn đời cho tình hữu nghị Việt-Lào. Tiếng người hát mà tôi nghe như dòng sông đang hát.
Bài và ảnh: TRẦN CÔNG TẤN