Khởi đầu từ hồi hương những bộ hài cốt
QĐND - Ở thủ đô Washington DC của nước Mỹ có một bức tường nổi tiếng: Bức tường chiến tranh - nơi khắc tên những lính Mỹ tử trận trong chiến tranh Việt Nam. Bức tường này nổi tiếng tới mức ca sĩ lừng danh người Mỹ Bruce Springsteen đã từng sáng tác một bài hát có tên “Bức tường”. Chỉ có điều, bài hát này không phải nói về bản thân bức tường, mà nói lên những cảm nhận của một người Mỹ về chiến tranh Việt Nam và những buồn đau mà nó để lại. Theo các tài liệu đã được công bố, số binh lính Mỹ tử trận trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam là 58.256 người, trong đó có 1.971 trường hợp mất tích cần tìm kiếm. Cùng với sự nỗ lực của cả phía Việt Nam, cho đến nay mới tìm thấy và hồi hương được 697 trường hợp. Đối với người Mỹ, đó là một con số đau buồn.
 |
|
Lễ bàn giao hai bộ hài cốt quân nhân cho phía Mỹ hôm 16-4, tại sân bay quốc tế Đà Nẵng.
|
Chúng tôi đến tìm Trung tá lục quân Mỹ Julian Trần vào một chiều đầu hè oi bức. Trưởng văn phòng MIA Mỹ tại Việt Nam này từng có nhiều năm tham gia quá trình hợp tác tìm kiếm người Mỹ mất tích (MIA) giữa hai quốc gia. Là người gốc Việt làm việc cho quân đội Mỹ, lại quay về Việt Nam làm công việc liên quan đến quan hệ Việt - Mỹ, có thể nói Julian Trần là người chứng kiến sự thay đổi từng ngày từ quá khứ tới hiện tại và rất có thể là tương lai, trong mối bang giao giữa hai quốc gia.
Lúc chúng tôi đến, Julian Trần vẫn chưa về. Cấp phó nói rằng anh đang bận họp với các đối tác phía Việt Nam để chuẩn bị cho chuyến khảo sát hiện trường sắp tới ở miền Trung. Một năm có từ 3 đến 4 đợt hoạt động tùy tình hình cụ thể. Những nơi dễ tìm thì đã kết thúc xong tìm kiếm và khai quật, giờ còn toàn những nơi rất khó. Chính vì thế, công tác chuẩn bị được cả hai bên Mỹ và Việt Nam rậm rịch trước đó hàng tháng trời.
Rồi thì Julian Trần cũng về. Dáng người nhỏ thó, da đen sạm, Julian Trần khiến chúng tôi bất ngờ khi vẫn giữ giọng miền Nam đặc trưng. Mấy chục năm bên xứ người, tiếng Việt của Julian Trần không hề mai một; anh thậm chí còn sử dụng thành ngữ một cách thành thạo khi tiếp chúng tôi. Biết chúng tôi muốn tìm hiểu về sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam trong hoạt động tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam (MIA), Julian Trần đã hỏi ngược lại rằng, liệu chúng tôi có biết lĩnh vực hợp tác này còn có lịch sử lâu đời hơn cả mối quan hệ chính thức được thiết lập giữa hai quốc gia hay không. “Các bạn có biết bắt đầu năm 1992, Việt Nam đã đồng ý cho Văn phòng MIA được đặt tại Hà Nội, trước cả khi có tòa đại sứ?”, Julian Trần nheo mắt. Nhưng rồi cũng không để cho chúng tôi kịp trả lời, Julian Trần đã nói luôn: “Những công việc mà chúng tôi (Mỹ và Việt Nam) đang làm không chỉ mang ý nghĩa nhân đạo mà còn có ý nghĩa đối với quan hệ hai nước. Vì từ những việc nhân đạo đó, chúng ta mới có thể tạo được lòng tin với nhau, từ đó phát triển quan hệ hợp tác”.
Đúng là trong lịch sử ngoại giao của thế giới, hiếm có một mối bang giao nào giữa hai quốc gia lại có thể được xây dựng bắt đầu từ việc hồi hương những bộ hài cốt như mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam. Có lẽ không nhiều người được biết là việc tìm kiếm người Mỹ mất tích đã được Việt Nam khởi động từ 1973, hơn 20 năm trước khi chính thức bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ. Ngay sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, ngày 9-2-1973, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Quyết định số 34/TTg thành lập Cơ quan Việt Nam tìm kiếm tin tức người mất tích trong chiến tranh. Tham gia cơ quan này có đại diện của các bộ: Quốc phòng, Ngoại giao và Công an hoạt động theo cơ chế phối hợp.
Những nỗ lực nhân đạo của Việt Nam
Bắt đầu từ năm 1974, Việt Nam đã chủ động tổ chức nhóm công tác tìm kiếm đơn phương người Mỹ mất tích (MIA). Hoạt động này được thực hiện đến năm 1988 dù Việt Nam bị bao vây, cấm vận, giữa hai bên không hề có quan hệ chính thức nào. Phía Việt Nam tự tổ chức tìm kiếm, thu thập, sau đó trao trả cho phía Mỹ. Công việc được thực hiện hoàn toàn trên tinh thần nhân đạo của Việt Nam.
Chính những nỗ lực nhân đạo to lớn ấy của Việt Nam đã có tác động khá nhiều đến nhận thức, suy nghĩ trong nội bộ các tổ chức chính trị, xã hội, nhân dân và chính phủ Mỹ. Và vấn đề MIA đã trở thành cầu nối giúp cho hai nước hiểu nhau và xích lại gần nhau hơn. Tháng 9-1988, chính phủ hai nước chính thức bàn về việc hợp tác chung và từ đây, hai bên bắt đầu triển khai tìm kiếm hỗn hợp.
Julian Trần cho biết, để có thể tiến hành một cuộc khai quật hiện trường đòi hỏi nhiều năm làm việc rất kỹ lưỡng và kiên nhẫn của các chuyên gia khác nhau trong tiến trình hợp tác giữa hai quốc gia. Tiến trình thường bao gồm 5 giai đoạn: Thương lượng về hợp tác; nghiên cứu và phân tích thông tin tư liệu giữa hai phía Mỹ và Việt Nam; khảo sát chi tiết và phỏng vấn nhân chứng; khai quật hiện trường và xác định về hài cốt. Một hiện trường khai quật như thế thường hoạt động từ hai tuần đến một tháng. Nếu không thu được kết quả, các đội khai quật tìm kiếm sẽ rút đi và tiếp tục chờ đợi thêm những thông tin mới về các trường hợp mất tích.
Ngoài những khó khăn, vất vả khó diễn tả bằng lời, quá trình hợp tác tìm kiếm người Mỹ mất tích tại Việt Nam cũng đã chứng kiến những sự hy sinh to lớn của cả hai phía. Ngày 7-4-2001, chiếc máy bay trực thăng chở đoàn công tác của Việt Nam và Mỹ gặp tai nạn tại vùng núi Am (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) đã làm thiệt mạng toàn bộ 16 người trên máy bay, gồm 9 người Việt và 7 người Mỹ, trong đó có hai lãnh đạo của cả cơ quan MIA Việt Nam và Mỹ. Nói đến đây, giọng Julian Trần chùng hẳn xuống…
Những người tạo nên mạch nguồn hòa bình
Trụ sở của Văn phòng MIA Mỹ tại Việt Nam nằm trên một con đường rợp bóng cây xanh thuộc hàng đẹp nhất Hà Nội. Dường như vì thế mà những bụi bặm, ngột ngạt của phố xá ngoài kia không thể nào ảnh hưởng tới nơi đây. Trong cái không gian tĩnh lặng và êm ả ấy, Julian Trần kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện muôn màu trong các chuyến đi tìm kiếm.
Ấy là một chuyến đi Quảng Trị tìm kiếm hài cốt của lính Mỹ mất tích trong trận Khe Sanh. Cùng đi với đoàn của Julian Trần có thêm hai cựu binh Mỹ. Buổi tối hôm đoàn gặp mặt một số cựu chiến binh Việt Nam hỗ trợ việc tìm kiếm, sau khi hai bên chào mừng và chúc rượu nhau, một trong hai cựu binh Mỹ là đại đội trưởng thủy quân lục chiến trong trận Khe Sanh năm đó đã nói với một cựu chiến binh Việt Nam rằng ông ấy rất vui vì được ngồi đây uống chung ly rượu với người đã từng ở bên kia chiến tuyến. Lý do mà ông ấy đưa ra là vì năm xưa, người cựu chiến binh Việt Nam bắn quá dở, nếu không ông ấy không có cơ hội có mặt ở đây hôm nay. Khi ông ấy nói xong, tất cả mọi người đều cười ồ lên và cùng nâng chén lên uống cạn. “Tất nhiên đó là câu nói tếu táo của ông ấy, nhưng điều đó cũng cho thấy giữa con người với con người vốn chẳng bao giờ tồn tại hận thù”, Julian Trần cười nhẹ.
Julian Trần cũng nhớ câu chuyện với Đại tá Đào Xuân Kính, lúc bấy giờ là Phó giám đốc Cơ quan Việt Nam tìm kiếm người nước ngoài mất tích, Chỉ huy trưởng Cơ quan MIA-Bộ Quốc phòng, vào tháng 6 năm ngoái. Cũng lại là tại Quảng Trị. Hôm đó là ngày 6-6, Đại tá Kính đã rủ Julian Trần đi thắp hương cho đồng đội của ông - những người đã ngã xuống trong trận đánh ở Thành cổ Quảng Trị năm nào. Lúc đó, Đại tá Kính đã nói với Julian Trần thế này: “Em đi với anh, đi thắp hương cho đồng đội anh, bởi đây có thể là chuyến công tác cuối cùng của anh vào Quảng Trị trên cương vị này”. Julian Trần nói lúc đó anh đã thực sự xúc động. Và Julian Trần nói với Đại tá Kính rằng mình cũng là một quân nhân và khi là quân nhân thì phải thi hành nhiệm vụ do cấp trên giao phó, nhưng thù hận cá nhân không có. “Vì thế, sau chiến tranh, đây là lúc mà chúng ta có thể làm gì đó để xoa dịu đau thương mà cuộc chiến để lại”, Julian Trần đã nói với Đại tá Kính như thế. “Chúng tôi không chỉ tìm quân nhân Mỹ mà chúng tôi còn cung cấp thông tin để giúp Việt Nam tìm kiếm hài cốt bộ đội Việt Nam hy sinh trong chiến tranh. Chúng tôi cũng thông báo tới các cựu binh Mỹ xem ai còn giữ kỷ vật của bộ đội Việt Nam thì trao trả. Tương tự, phía Việt Nam cũng vậy. Đôi khi đấy là cách mà chúng tôi hàn gắn vết thương chiến tranh”, Julian Trần đưa tay lên ngực trái, nơi phía trái tim.
Julian Trần tự nhận mình đã nếm trải đủ nỗi thống khổ trong chiến tranh đồng thời với tư cách của một người lính và một người dân. Chính vì thế, khi chúng tôi nhắc tới chiến tranh Việt Nam, Julian Trần đã trầm ngâm trong một vài phút. Rồi anh nói: “Chiến tranh là việc trong quá khứ. Trong một cuộc chiến, đau thương mất mát là không tránh được và chúng ta không được lựa chọn. Bất cứ gia đình nào cũng có thân nhân và ai cũng có nỗi đau riêng. Nhưng cái gì đã qua là qua rồi. Thế hệ như tôi không thể thay đổi được, nhưng điều mà chúng tôi có thể làm được là tạo một con đường để phát triển hợp tác hai bên, đồng thời xóa đi những đau khổ và tàn tích chiến tranh”.
Đại tá Kính đã về hưu, thay ông là Đại tá Nguyễn Hữu Lương, một người cũng rất tâm huyết với công tác nhân đạo này. Trần nói, thời gian tới anh cũng sẽ hết nhiệm kỳ. Nhưng như Trần nói, ai rồi cũng phải đến lúc đi nhưng mạch nguồn hòa bình sẽ không bao giờ dứt trên con đường nhân đạo.
NGỌC HÀ-LÂM TOÀN
(Còn nữa)
Kỳ 1: Chiến tranh là câu chuyện của ngày hôm qua