Từ xa xưa khi xuất hiện chiến tranh, người ta đã biết sử dụng chất độc vào mục đích quân sự, chất độc lúc đó là các độc tố tự nhiên trong động vật, thực vật được tẩm vào các mũi tên và đầu gươm giáo. Cùng với sự phát triển về khoa học và công nghệ, người ta đã điều chế được chất độc hóa học và sản xuất ra các loại vũ khí hóa học ngày càng hiện đại, loại vũ khí giết người hàng loạt.
Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất quân Đức đã sử dụng chất độc Clo, Yperit làm nhiễm độc và chết hàng nghìn quân Anh, Pháp trên chiến trường. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, quân Nhật đã sử dụng chất độc Yperit tại Trung Quốc... Thế nhưng trong lịch sử loài người, chưa có cuộc chiến tranh hóa học nào có thể so sánh với cuộc chiến tranh hóa học mà quân đội Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam từ năm 1961 đến 1971.
Cuộc chiến tranh hóa học này đã được Mỹ và chính quyền Sài Gòn lúc đó bật đèn xanh từ rất sớm. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thời đó C.Van-xơ (Cyrus Vance) cho rằng: “Đường lối chính trị quốc gia Mỹ không cấm sử dụng các loại chất độc để đàn áp hàng loạt”. Ngô Đình Diệm-Tổng thống chính quyền Sài Gòn khi trả lời phỏng vấn của Đài tiếng nói Mỹ ngày 17-3-1963 tuyên bố rằng: “Việc rải các chất độc hóa học là một phương tiện chiến tranh rất hiệu nghiệm mà các nước chậm phát triển có thể thí nghiệm để chống lại cái mà người cộng sản gọi là chiến tranh giải phóng”. Cuộc chiến tranh hóa học núp dưới chương trình khai quang, phá hủy hoa màu ở Việt Nam của Mỹ đã được tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi (J.Kennedy) phê chuẩn vào ngày 30-11-1961.
Trong cuộc chiến tranh này, trong một không gian nhỏ hẹp khoảng 17 vạn ki-lô-mét vuông của miền Nam Việt Nam, Mỹ đã sử dụng hơn 110.000 tấn chất độc với trên 300.000 tấn chất cháy và 14 triệu tấn bom đạn với sức công phá bằng hai lần số bom đạn đã sử dụng trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Chất độc hóa học đã được phun rải trực tiếp trên 1/4 diện tích miền Nam Việt Nam, trên 3 triệu héc-ta rừng bị phá hủy làm mất đi khoảng 112 triệu mét khối gỗ; 4,8 triệu người Việt Nam đã bị phơi nhiễm và khoảng 3 triệu người là nạn nhân.
Chất độc không chỉ tác động đến nhân dân Việt Nam mà còn tác động đến binh sĩ Mỹ và các nước có quân tham chiến ở Việt Nam. Theo số liệu của ông E.Gium-oát (Elmo.R.Zumwalt) nguyên là tư lệnh các lực lượng Hải quân, Không quân Mỹ ở Việt Nam (1968-1970) và nhiều nhà khoa học khác đã có ít nhất 2,6 đến 4,2 triệu lượt binh sĩ Mỹ đã bị phơi nhiễm chất độc, theo số liệu của Chủ tịch Hội CCB thương tật Da cam Hàn Quốc thì có đến 100.000 binh sĩ Hàn Quốc là nạn nhân và số đã chết là 20.000 người.
 |
|
Ảnh chụp 3 bồn chứa chất độc da cam, trắng, xanh tại Phi trường Biên Hòa, năm 1971. Ảnh tư liệu
|
Độc tố lớn nhất
Khoảng 70 chất đã được sử dụng trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Nhiều chất trong số này đã bị công ước quốc tế, hoặc luật pháp nhiều nước cấm sử dụng như các chất độc quân sự, chất độc đi-ô-xin (dioxin), hexachlorobenzen, chlordane, dieldrin, 2,4,5 T, DDT... Và chất độc được quân đội Mỹ sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam chính là chất độc da cam/đi-ô-xin, chất độc đã để lại hậu quả khủng khiếp về con người, môi trường cho cả chục, trăm năm sau.
Đi-ô-xin là chất độc hại nhất mà loài người đã điều chế được, độc hơn các chất độc quân sự như Yperit, Tabun, Sarin... Vào năm 1957 tức là trước lúc Mỹ sử dụng chất độc ở Việt Nam 4 năm, hai nhà khoa học Đức và Mỹ là U.Xan-đơ-man (W.Sandermann) và và G.Đê-trích (J.Detrick) đã điều chế được đi-ô-xin và biết được sự độc hại của chất này. Liều gây chết đối với khỉ (LD50) của đi-ô-xin là 70ppb (phần tỷ gram) trong khi đó liều chết của Sarin là 83, của Tabun là 208.
Đi-ô-xin là chất rất độc cho nên liều lượng tối đa cho phép của chúng đối với người tiếp xúc là rất nhỏ. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) quy định liều cho phép của đi-ô-xin là 1- 4 phần nghìn tỷ gam cho một ki-lô-gam trọng lượng cơ thể trong một ngày đêm, và một người có trọng lượng là 50kg thì liều cho phép một ngày đêm tối đa là 50-200 phần nghìn tỷ gam. Mỹ còn đánh giá đi-ô-xin độc hại lớn hơn nên liều cho phép của Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) là 0,006pg, nhỏ hơn 160 lần so với liều cho phép của Tổ chức Y tế thế giới.
Căn cứ vào những khảo sát của Việt Nam trong sự hợp tác chặt chẽ với các nhà khoa học quốc tế như Liên bang Nga, Ca-na-đa, Mỹ, Nhật Bản... cùng các kết quả nghiên cứu quốc tế nhất là của Mỹ, có thể thống nhất nhận định rằng chất độc da cam/đi-ô-xin gây nên suy giảm miễn dịch, làm rối loạn nội tiết và khả năng thích nghi của con người, là tác nhân gây ung thư; nhiều người còn cho rằng đi-ô-xin gây nên tác động di truyền qua nhiều thế hệ; tỷ lệ dị tật bẩm sinh đời con cháu ở những người bị phơi nhiễm chất độc cao hơn hẳn những người sống ở vùng không bị phơi nhiễm....
Ngoài ra, các nghiên cứu còn khẳng định, đây là loại chất độc rất bền vững trong môi trường. Các nhà khoa học thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về độ bền vững của đi-ô-xin. Theo Pau-xten-bách (Paustenbach DJ) và Pu-ri (Puri R.K) trên lớp đất bề mặt dao động từ 9 đến 25 năm, còn ở các lớp đất sâu hơn từ 25 đến 100 năm. Chu kỳ bán hủy trong cơ thể con người vào khoảng 7 đến 10 năm; theo Giáo sư Xchéc-tơ (Schecter, Mỹ), người bị nhiễm độc sau 35 năm còn phát hiện thấy đi-ô-xin trong máu. Ở nồng độ 1ppt đã có tác động đến thai nghén, ở nồng độ 5ppt có thể gây ung thư và đến 50 – 70ppb có thể chết người.
Hậu quả dai dẳng
Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh hủy diệt sinh thái đầu tiên trong lịch sử loài người ở Việt Nam. Gần ¼ diện tích tự nhiên miền Nam Việt Nam đã bị phun rải. Sự kết hợp cả chất độc sinh thái và bom napalm đã làm cho khoảng 3 triệu héc-ta rừng tự nhiên bị hủy hoại, làm mất đi khoảng 112 triệu mét khối gỗ, đã biến các khu rừng nhiệt đới, rừng nội địa và rừng ngập mặn phong phú về đa dạng sinh học bị phá hủy bao gồm cả hệ thực vật, động vật và thổ nhưỡng. Nhiều nhà khoa học quốc tế đã nhận định phải qua nhiều thập kỷ, thậm chí đến 100 năm mới phục hồi được.
Việc hủy diệt môi trường sinh thái đã tác động trực tiếp đến nguồn sống của người dân Việt Nam, làm cho sức khỏe của hàng triệu người gặp rất nhiều khó khăn. Như vậy, chất độc da cam/đi-ô-xin tác động hai lần đến sức khỏe người dân Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã sử dụng 4,7 triệu lít để phá hoại trực tiếp 33.339ha mùa màng, rải trực tiếp vào 3.138 làng bản và làm ảnh hưởng đến 20.585 làng bản. Phần lớn số nạn nhân da cam/đi-ô-xin đã và đang sống ở các điểm nóng, trong mỡ và máu của họ có hàm lượng đi-ô-xin thấp nhất là 1,9 ppt, cao nhất là 413ppt, trung bình là 76,68ppt. Trong khi đó mẫu đối chứng ở Hà Nội có giá trị là 2ppt. Theo các nhà khoa học Pháp P.Vơ-me-lin (P.Vermelin) và F.Gien-đru (F.Gendreau), nếu trong máu có hàm lượng đi-ô-xin 4ppt thậm chí 1ppt đã được coi là bất thường và nguy hiểm cho sức khỏe con người thì các nạn nhân kể trên là những người cần được chăm sóc sức khỏe một cách khẩn trương và chu đáo.
Đến nay các cơ quan của Việt Nam cùng nhiều nhà khoa học và nhiều phòng thí nghiệm có uy tín của thế giới như Đức, Pháp, Nhật Bản, Hà Lan, Ca-na-đa, Liên bang Nga đã phân tích trên 2000 mẫu đất, bùn lắng và đã khảo sát hầu như tất cả các tỉnh đã bị rải và cũng đã phân tích một số mẫu của miền Bắc để đối chứng. Kết quả cho thấy: Mức độ ô nhiễm đi-ô-xin do quân đội Mỹ sử dụng ở miền Nam Việt Nam lúc chiến tranh là mức ô nhiễm cao nhất thế giới.
Hiện tại, các căn cứ quân sự cũ của Mỹ nơi tàng trữ và nạp chất độc lên máy bay như sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát còn tồn lưu các chất độc ở mức độ cao và rất cao lên tới hàng chục, hàng trăm nghìn ppt. Tại sân bay Biên Hòa, một mẫu cao nhất là trên 1 triệu ppt, gấp hơn 1000 lần mức độ cho phép của Mỹ.
Phó Giáo sư-Tiến sĩ Trần Xuân Thu, Phó Chủ tịch – Tổng thư ký Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam