Đã 3 ngày trôi qua sau vụ thảm sát kinh hoàng tại trung tâm thương mại Nê-brát-xca làm 9 người thiệt mạng, người Mỹ vẫn chưa hết bàng hoàng trước cái chết của các nạn nhân vô tội. Cuộc tranh cãi về mối hiểm họa khi “văn hóa” súng đạn đi liền với căn bệnh xã hội trầm cảm lại bùng lên trong dư luận Mỹ.
Những tay súng bệnh hoạn
Đây không phải lần đầu tiên người Mỹ phải rơi lệ trước những thảm cảnh đau lòng. Chỉ riêng từ đầu năm 2007 đến nay, ở Mỹ đã xảy ra 4 vụ thảm sát tương tự như ở Nê-brát-xca, Tháng 2, S.Ta-lô-vích, một thanh niên Mỹ gốc Bô-xni-a, 18 tuổi, đã bất ngờ xả súng bắn chết 5 người và làm bị thương 4 người khác tại siêu thị ở thành phố Son Lếch, trước khi bị cảnh sát bắn hạ. Tháng 4, cả nước Mỹ chấn động khi Cho Seng Hui, 23 tuổi, chỉ trong vòng 9 phút nhả liền 170 phát đạn, giết chết 32 bạn học. 4 ngày sau, đến lượt W.Phi-líp, kỹ sư thuộc Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ, dùng súng khống chế hai đồng sự tại phòng làm việc. Sau khi bắn chết một trong hai con tin là D.Bơ-vơ-ly, Phi-líp quyết định dành cho mình một phát súng vào đầu. Đến tháng 10, H.Cun, 14 tuổi, học sinh trung học ở thành phố Clê-vơ-len, bang Ô-hai-ô, dùng súng bắn bị thương 4 người trong trường trước khi tự sát.
Có một điểm chung trong các vụ thảm sát trên là thủ phạm hành động trong trạng thái không tự chủ được về tinh thần do căn bệnh trầm cảm hành hạ. Trở lại với vụ khi A.Hao-kin, trong lá thư tuyệt mệnh để lại, A.Hao-kin cho rằng sau vụ thảm sát mình sẽ trở nên nổi tiếng. A.Hao-kin có một quá khứ không phẳng lặng, từng bỏ nhà ra đi và phải chữa trị bệnh trầm cảm. Hay như trong vụ W.Phi-líp, viên kỹ sư 60 tuổi này sống rất cô đơn, không vợ con. Khi nhận được bản đánh giá công việc không mấy khả quan, ám ảnh với suy nghĩ mình bị trù úm, Phi-líp lập tức quay sang trả thù đồng nghiệp.
Qua các vụ bắn người bừa bãi này, các nhà xã hội học cho rằng có thể thấy một vấn đề xã hội mà nước Mỹ đang phải đối mặt là sự căng thẳng quá mức trong cuộc sống khiến nhiều người không chịu đựng nổi, dẫn đến không kiểm soát được hành vi. Người ta tính rằng, sự căng thẳng đã làm 1/8 dân số Mỹ rơi vào trạng thái trầm cảm. Mỗi năm, số người bệnh này phải bỏ ra tới 45 triệu USD cho việc chữa trị.
Về nguyên nhân dẫn đến căn bệnh xã hội trên, giáo sư sử học và tội phạm G.Át-lơ của Đại học Tổng hợp Phlo-ri-đa nhắc tới “sự cô lập, sự xa lánh" ngày càng gia tăng ở Mỹ hiện nay. Nhà nghiên cứu A. Phoóc thì đề cập tới sự bất bình đẳng. Ông cho rằng nước Mỹ là nơi dành cho những người “thắng cuộc”, những người ngày càng giàu lên và được ngưỡng mộ, còn người nghèo ngày càng bị coi thường. Vì thế mà các tay súng bệnh hoạn thường trút sự giận dữ về sự thất bại của mình vào một nhóm sắc tộc hoặc nhóm kinh tế xã hội nào đó.
Tự do cá nhân hay lợi nhuận?
Vụ thảm sát Nê-brát-xca lại làm dấy lên cuộc tranh cãi về “văn hóa” súng đạn ở Mỹ, nơi mà mang súng được coi là một quyền tự do của mỗi người. Ở Mỹ, người ta có thể mua súng đạn dễ như mua một món đồ chơi. Chẳng hạn, trước đây ở bang Vơ-gi-ni-a, súng đạn có thể mua ngay bên lề đường. Hệ quả là nước Mỹ có 300 triệu dân nhưng có tới 200 triệu khẩu súng đang được lưu hành. Nếu cộng với số súng lưu hành lậu, tỷ lệ này còn cao hơn.
Súng bán thoải mái như vậy nhưng việc kiểm tra xem người mua súng có tiền án hay bệnh tâm thần hay không không phải lúc nào cũng hiệu quả. Trên thực tế, những kẻ tâm trí bất thường như Cho Seng Hui hay A.Hao-kin vẫn dễ dàng có súng để gây án mạng. Hậu quả là nguy cơ bị giết do súng ở Mỹ cao hơn so với ở bất kỳ nước phương Tây nào khác. Con số thống kê cho thấy mỗi năm, có chừng 30 nghìn người Mỹ chết vì súng đạn (trung bình mỗi ngày có 80 người), gấp gần 10 lần số quân nhân Mỹ chết ở chiến trường I-rắc trong 4 năm.
Vậy liệu sau vụ thảm sát ở Nê-brát-xca, nước Mỹ có thay đổi chính sách về sở hữu vũ khí? Câu trả lời không đơn giản bởi sự chống đối của Hiệp hội bán súng (NRA). Hội này ra đời năm 1871, có trụ sở chính ở Niu Y-oóc và hiện có 4 triệu hội viên. Để bảo vệ lợi nhuận của mình, NRA đổ không ít tiền cho chiến dịch tuyên truyền rằng tự do mua súng là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm đã được Tu chính án thứ 2 của Mỹ khẳng định. Họ đưa ra không ít lập luận, nào là “súng không giết người, chỉ có người giết người”, nào là người dân cần phải mua súng để chống lại kẻ gian xâm nhập cướp bóc.
Nhưng thống kê cho thấy chỉ có một số rất ít trường hợp người dân dùng súng để chống lại kẻ gian, còn đa số những vụ chết người do súng là lạm dụng súng. Những người phản đối NRA thậm chí nhắc lại những sự kiện đau lòng trong quá khứ như Tổng thống A.Linh-côn bị giết vì súng, Tổng thống J.Ken-nơ-đi cũng bị giết vì súng, Tổng thống R.Ri-gân bị ám sát bằng súng nhưng may mắn không chết. Thế nhưng, việc thay đổi luật sử dụng súng luôn gặp khó khăn.
Theo các nhà phân tích, không dễ gì đụng chạm vào giới tài phiệt súng đạn vì quyền hạn và ảnh hưởng khá lớn của giới này. Họ dẫn ra vụ việc như việc thông qua đạo luật cấm bán loại súng tấn công năm 1994 đã làm cho Đảng Dân chủ mất quyền kiểm soát đa số ở Quốc hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm đó. Năm 2000, ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ A.Go thua cuộc cũng là phần nào vì vấn đề súng.
Trên thực tế, mỗi lần một dự luật kiểm soát vũ khí được đưa ra là NRA tìm cách vận động hành lang, gây sức ép để nó không được thông qua. Chính vì thế mới có nghịch lý Chính phủ Mỹ cho phép những người hút thuốc bị ung thư có quyền đòi công ty thuốc lá bồi thường, những người quá béo có quyền kiện nhà hàng McDonald hay Burger King vì cho họ ăn những thực phẩm chiên giòn quá nhiều dầu mỡ, nhưng khi có người đặt vấn đề là những người bị bắn có thể truy tố những công ty bán súng thì bị ngăn lại.
Thực tế đó đang làm nhiều người Mỹ phải đặt câu hỏi: Cơn mê sảng súng đạn ở Mỹ còn kéo dài đến bao giờ?
MẠNH TƯỜNG