 |
|
Những hình ảnh hào nhoáng thế này làm người ta quên đi từng có một “thảm hoạ” tài chính ở châu Á. Ảnh: Google |
Trong bài viết đăng trên tờ Tiếng vang của Pháp ngày 13-7, giáo sư Mỹ Giô-xép Xtích-lít, người đoạt giải thưởng Nô-ben về kinh tế năm 2001 đã cảnh báo: “Nếu chỉ nhìn vào bề nổi, chúng ta dễ vội vàng đi đến nhận định rằng nền kinh tế châu Á đã hoàn toàn hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997. Nhưng thực tế là vẫn còn nhiều vấn đề mà nếu không giải quyết triệt để, các nước sẽ khó tạo được một bước ngoặt trong tiến trình phát triển”.
Hai bài học bị bỏ quên
"Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, hai bài học quan trọng nhất rút ra từ cuộc khủng hoảng này vẫn không được các nước và các thể chế tài chính áp dụng. Các cuộc cải cách là cần thiết, đặc biệt là việc ra soát lại toàn bộ hệ thống dự trữ toàn cầu. Có thể thế giới chưa phải đương đầu với cuộc khủng hoảng nào như cuộc khủng hoảng năm 1997, nhưng không nên chủ quan vì có thể chúng ta sẽ phải trả giá đắt cho những khiếm khuyết của hệ thống tài chính toàn cầu", Xtích-lít viết.
Bài học thứ nhất rút ra từ cuộc khủng hoảng tháng 7-1997 là việc tự do hoá thị trường vốn (tức các nước đang phát triển mở cửa thị trường tài chính của mình cho các luồng vốn trôi nổi) là một điều nguy hiểm. Không phải ngẫu nhiên mà hai nước đang phát triển lớn duy nhất thoát được khỏi cuộc khủng hoảng năm 1997 là Trung Quốc và Ấn Độ vì cả hai nước này đều chống lại việc mở cửa thị trường tài chính. Bài học thứ hai là, trong một thế giới mà mức độ hội nhập cao, nhu cầu thành lập một thể chế tài chính quốc tế có thể tin cậy được, và có khả năng đặt ra các quy định để tăng tính ổn định toàn cầu và thúc đẩy phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển ngày càng rõ rệt. Sự thất bại của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong việc giải quyết hậu quả của cuộc khủng hoảng 1997 đã làm giảm uy tín của thể chế này. Và sự bất lực của IMF trong việc giải quyết sự mất cân đối của thị trường tài chính quốc tế, hiện là mối đe doạ trực tiếp đối với sự ổn định tài chính toàn cầu, càng cho thấy rõ những hạn chế của IMF.
Theo Xtích-lít, hiện có một số điểm tương đồng giữa tình hình hiện nay và 10 năm trước. Các luồng vốn đầu tư từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển đã tăng lên một cách nhanh chóng. Sự dư thừa lượng tiền mặt trên toàn cầu đã một lần nữa đẩy các chi phí bảo hiểm rủi ro xuống mức thấp tương đương với mức của năm 1997 và các luồng vốn đầu tư lại một lần nữa được đổ dồn vào các nước đang phát triển, cho dù cả thế giới đều nhất trí rằng điều này sẽ mang lại những rủi ro lớn.
Đằng sau vẻ hào nhoáng
Sự phát triển hào nhoáng của châu Á đang gây “choáng” cho thế giới. Những trung tâm thương mại sầm uất ở Xơ-un, Băng Cốc, Trung Quốc hay những sàn giao dịch chứng khoán đầy chật nhà đầu tư làm người ta khó có thể tưởng tượng được rằng mới chỉ cách đây 10 năm, nền kinh tế ở khu vực này đã từng chao đảo. Từ Gia-các-ta đến Đài Bắc, hàng loạt dự án bất động sản đang được triển khai. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo năm nay Đông Á sẽ có mức tăng trưởng kinh tế 8%.
Tuy nhiên, bên dưới lớp vỏ hào nhoáng ấy, nhiều vấn đề từng là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 vẫn chưa được giải quyết triệt để. Nhiều thập niên qua, một số nền kinh tế châu Á như Thái Lan và Ma-lai-xi-a tăng trưởng dựa vào hoạt động xuất khẩu sang thị trường các nước đang phát triển, mà chủ yếu là các mặt hàng giá trị trung bình và thấp. Nhưng một nền kinh tế không thể chỉ dựa vào xuất khẩu, nên một vài nước Đông Á đã nỗ lực phát triển thị trường tiêu dùng trong nước vững mạnh.
Trong bối cảnh Trung Quốc và Việt Nam, với lợi thế chi phí nhân công thấp, đang ngày càng chiếm lĩnh thị trường sản xuất, gia công, thì các nước có tiền lương cao hơn, như Ma-lai-xi-a, sẽ không thể cạnh tranh. Khi muốn đầu tư vào Đông Nam Á, tập đoàn công nghệ Intel đã quyết định chọn Việt Nam là nơi để xây dựng nhà máy mới trị giá 300 triệu USD. Trên thực tế, nguồn vốn đầu tư ở nhiều nước châu Á, ngoài Ấn Độ và Trung Quốc, vẫn rất thấp.
Nhiều quốc gia Đông Nam Á vẫn còn tồn đọng một số vấn đề. Mặc dù các nước như Thái Lan khẳng định là có nền giáo dục tiểu học phát triển, tạo ra lực lượng lao động đủ trình độ học vấn cần thiết để phục vụ hoạt động sản xuất cơ bản, nhưng hệ thống giáo dục trung học còn yếu nên trình độ dân trí chưa đủ sức cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tiếng Anh và một số kỹ năng nâng cao không thể thiếu của thế kỷ 21. Do đó chỉ có một tỷ lệ nhỏ trong dân số đáp ứng được yêu cầu mới của thời đại, nên khoảng cách về thu nhập ngày một tăng. Điển hình như ở Phi-líp-pin, trong khi giới thượng lưu uống cà phê Starbuck ở khu trung tâm Ma-ni-la thì gần đó có hơn 100.000 người phải kiếm sống qua ngày bằng nghề bới rác. Bên cạnh đó là tình trạng tham nhũng. Mối quan hệ thiếu minh bạch giữa doanh nghiệp với ngân hàng đã dẫn đến nhiều hợp đồng “mờ ám” ở các nước như Hàn Quốc và Thái Lan, theo đó ngân hàng cho vay tiền mà không thực sự đánh giá tiềm lực của bên vay.
Cú sốc từ cuộc khủng hoảng tài chính được nhìn nhận là sẽ góp phần cải thiện chính sách quản lý doanh nghiệp. Trên thực tế, đúng là nhiều nướcđã thấm thía bài học xương máu. Với nguồn dự trữ tiền tệ khá vững chắc, hầu hết các nước châu Á đều ít có nguy cơ rơi vào đợt khủng hoảng như hồi năm 1997. Nhưng nếu thiếu động lực cải tổ, thì mặc dù vẫn tăng trưởng đều nhưng các nước sẽ không bao giờ có thể trở thành một nền kinh tế phát triển./.
Ngọc Hà