Đại tá Nguyễn Quy Nhơn (hàng phía sau, thứ hai bên phải) với những người bạn Nga năm 2000. Ảnh tư liệu gia đình

Với đại tá Nguyễn Quy Nhơn, Đại biểu Quốc hội khóa XII, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Nam, Liên Xô là cả một chuỗi ký ức đẹp. Nhân kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, đại tá Nguyễn Quy Nhơn đã kể lại cho chúng tôi những kỷ niệm không thể nào quên:

Từ chiến trường miền Nam ác liệt, năm 1970, tôi được ra Bắc an dưỡng, học văn hóa rồi được chọn đi học Liên Xô vào năm 1977. Trường Cao đẳng tổng hợp quân sự Ô-đét-xa thuộc nước Cộng hòa U-crai-na là một trường quân sự tốt của Liên Xô lúc bấy giờ. Thành phố cảng tấp nập tàu bè nhưng con người nơi đây luôn thư thái, điềm tĩnh, tao nhã và rất gần gũi.

Sinh viên của trường đến từ hơn hai mươi nước khác nhau. Việt Nam năm ấy có 15 người theo học, riêng ngành công binh chỉ có 5 người và cùng biên chế thành một lớp. Tôi còn nhớ cô giáo dạy Nga văn năm đầu tiên cho 5 người chúng tôi là cô Ta-nhi-a tuổi hơn 40, tính tình rất hiền hậu. Biết chúng tôi là người Việt Nam, cô rất quý. Trong bài giảng, cô liên hệ đến thực tế chiến tranh ở Việt Nam và cuộc chiến tranh Vệ quốc của Liên Xô trước đây để chúng tôi dễ vận dụng. Cô hay nói đến vẻ đẹp Nga, về văn hóa rực rỡ, lâu đời của nước bạn. Tôi đã yêu hơn những bức tranh “Mùa thu vàng” của Lê-vi-tan, “Người đàn bà không quen biết” của Kram-xcôi từ tình yêu nghệ thuật của cô và vẫn giữ mãi những tác phẩm này đến bây giờ. Cô còn dạy chúng tôi hát. Những bài hát “Đợi anh về”, “Thời thanh niên sôi nổi”, “Cuộc sống ơi, ta mến yêu người” và cả những bài dân ca Nga “Xa xôi”, “Dòng Von-ga”, “Cây liễu”… được cả lớp rất thích bởi giai điệu và ca từ rất hay.

Ngày nghỉ cô thường dẫn 5 chúng tôi ra cảng, thăm các bảo tàng, công viên… cho chúng tôi giao lưu, học hỏi. Vì vậy vốn tiếng Nga của chúng tôi được nâng lên rất nhiều. Học sinh của cô tuổi đều hơn 20, có đứa đã có vợ nhưng cô vẫn coi chúng tôi như còn rất bé, đôi lúc vào lớp cô cũng mang theo cả kẹo, bánh. Sinh ra trong chiến tranh, chúng tôi chẳng mấy ai nhớ đến ngày sinh. Vậy mà cô không quên. Những ngày ấy vào lớp, cô thường hỏi: “Hôm nay các em biết lớp ta có sự kiện gì không?”. Trong khi tất cả đều ngơ ngác thì cô rút trong túi ra nào quà, bưu thiếp… Những lúc ấy chúng tôi thấy cô như người mẹ, thân thương quá đỗi. Thỉnh thoảng cô mời chúng tôi đến nhà ăn cơm. Chồng và con cô cũng rất hiếu khách, coi chúng tôi như người thân. Rất tiếc sau này chúng tôi không còn được học cô nữa nhưng tình cảm ấm áp của cô chẳng đứa nào quên.

Anh quản trị trưởng Ma-ca-rốp cũng có tình cảm khá đặc biệt với học sinh Việt Nam. Tôi nhớ kỷ luật của trường hồi đó rất nghiêm. Hằng đêm vào khoảng 9 giờ tối anh lại bắt học viên đi đều quanh trường, vừa đi vừa hát thật to cho đến khi mệt lử mới được đi ngủ. Ai không thực hiện sẽ bị phạt. Riêng với đoàn chúng tôi anh rất tin tưởng, thường chẳng bao giờ kiểm tra. Vào các ngày lễ Việt Nam, anh nhiệt tình giúp chúng tôi lo hội trường, bàn ghế, lo cả khâu trang trí. Vào các kỳ nghỉ đông, nghỉ hè, chúng tôi muốn đi đâu, anh đều đề đạt lên nhà trường thỏa mãn nhu cầu. Vì thế 4 năm ở trường, chúng tôi được tham quan rất nhiều nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô-viết, điều mà không phải lưu học sinh nào cũng có được.

Về nước một năm, tôi và 3 anh trong lớp trở lại Nga để học Học viện Công binh Quy-bư-sép ở Mát-xcơ-va. 4 năm học ở đây chúng tôi cũng có rất nhiều kỷ niệm. Chúng tôi gặp lại thầy giáo dạy chiến thuật Be-lét mới được chuyển từ Ô-đét-xa về. Thầy trò ôm nhau mừng lắm. Chúng tôi nhớ mãi lời dạy của thầy: “Học đã tốt rồi, về nước phải vận dụng tốt hơn. Đất nước các em còn nghèo, phải biết bảo quản, giữ gìn thật tốt vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, vì nó là tài sản của nhân dân”. Gắn bó với tôi hơn cả là thầy Lư-lin, người trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận án tốt nghiệp. Lúc thì ông đến tận phòng tôi, lúc thì tôi đến nhà ông, bất cứ lúc nào tôi cần hỏi, ông đều giải đáp rất nhiệt tình. Biết tôi thiếu tài liệu, ông bỏ tiền túi mua sách cho tôi đọc thêm. Đề án tốt nghiệp “Xây dựng sở chỉ huy Quân khu cấp chiến dịch” của tôi đạt điểm 5 (điểm xuất sắc) có phần công sức của thầy Lư-lin.

Hơn 8 năm được học ở hai trường quân sự lớn trên đất bạn, từ một người lính chưa mấy tường tận về kỹ thuật, tôi đã trưởng thành, có được nguồn kiến thức cơ bản phục vụ hữu ích trong công tác sau này, nhất là trong lĩnh vực công binh mà tôi đảm nhiệm. Tôi vẫn luôn nhớ về những năm tháng ấy như một trong những kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời mình.

Bài và ảnh: HỒNG VÂN