 |
|
Thu hoạch hồ tiêu ở huyện Chư Sê (Gia Lai) |
Từ năm 2005 đến nay, hồ tiêu của Việt Nam đã xuất khẩu đến gần 80 nước, vươn lên vị trí số 1 thế giới, chiếm 50% sản lượng hồ tiêu xuất khẩu toàn cầu và được đánh giá là chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Tuy nhiên, để thị trường xuất khẩu hồ tiêu ổn định, ngày càng mở rộng cả về qui mô và số lượng, chúng ta cần xây dựng những thương hiệu mạnh.
Tiếng thơm từ hồ tiêu Việt Nam
Nếu như năm 1986, diện tích trồng hồ tiêu của nước ta chỉ có 3.900 ha, thì đến hết năm 2005, diện tích này đã tăng lên 52.000 ha. Những vùng trồng hồ tiêu lớn, chất lượng cao như Bình Long, Đồng Phú (Bình Phước), huyện Chư Sê (Gia Lai), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) và một số địa phương ở Đắc Lắc, Quảng Trị… vẫn không ngừng phát triển về diện tích và sản lượng. Năm 1990 nước ta đã xuất khẩu được 9000 tấn, đến năm 2006 đã là 105.000 tấn (tăng hơn 9% so với năm 2005) và đạt chất lượng kinh doanh các loại hạt theo tiêu chuẩn của Mỹ (ASTA). Sản phẩm xuất khẩu độc đáo của Việt Nam là tiêu trắng. Trước đây, ta phải xuất khẩu thông qua nước thứ ba, nay hồ tiêu Việt Nam đã đi thẳng vào thị trường các nước, tạo ra thế đứng vững chắc của mặt hàng này.
Theo ông Đỗ Hà Nam-Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam, tại Hội nghị thường niên của ngành hồ tiêu thế giới vừa họp đầu tháng 9-2006 tại Xri Lan-ka, các nước đều cho rằng hồ tiêu Việt Nam có vai trò quyết định trên thị trường thế giới, góp phần ổn định thị trường quốc tế và mang lại lợi ích cho người trồng tiêu bởi chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Hồ tiêu Việt Nam chi phối 33% thị trường tiêu thụ của Mỹ và 40% tại thị trường EU. Ông Đỗ Hướng Dương, Phó TGĐ Công ty dịch vụ cổ phần Phú Nhuận (MASECO) cho chúng tôi biết: “Hồ tiêu do công ty chế biến, đã có mặt ở 73 nước. Năm 2006, MASECO đã xuất khẩu được 2500 tấn hồ tiêu, đạt doanh thu hơn 4 triệu USD. Chúng tôi đã tạo được niềm tin của khách hàng đối với các sản phẩm của mình”. Tháng 6-2006 hồ tiêu xuất khẩu có giá là 1.300 USD/tấn, đến tháng 10 đã tăng lên 2.800 USD/tấn.
 |
|
Nhập hồ tiêu cho nhà máy chế biến MASECO. |
Ngoài nhu cầu nhập khẩu hồ tiêu ở các nước EU và Mỹ vẫn cao, thì nhu cầu ở một số nước Đông Âu, Đông-Tây Á và Trung Mỹ cũng tăng vọt. Đây là yếu tố thuận lợi để tăng nguồn thu của ngành hồ tiêu và khuyến khích người nông dân đầu tư để phát triển kinh tế gia đình. Anh Ngô Đức Thắng ở xã Ia Blang, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai nói:
“Gia đình tôi có hơn 2,7 ha tiêu, sản lượng năm nay đạt 22 tấn. Giá bán hồ tiêu hạt tăng hơn năm trước, nên chúng tôi đã có thu nhập 450 triệu đồng”.
Vì sự bền vững của thương hiệu
Xuất khẩu hồ tiêu hiện nay đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng, nhất là tiêu chí vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP). Do vậy, muốn có thương hiệu mạnh, thì từ việc trồng trọt, chăm sóc cây-hạt, đến các công đoạn chế biến, phải được đầu tư đúng mức. Tính đến giữa năm 2006, cả nước đã có 11 nhà máy chế biến hồ tiêu với công suất trung bình 5000 tấn/năm/nhà máy, trong đó có 6 nhà máy chế biến công nghệ cao, được lắp đặt hệ thống xử lý và khử trùng bằng hơi nước là: MASECO, Trường Lộc, Tấn Hưng, Intimex, Fonexim và Vinaharis.
Tuy nhiên, ngoài sự cố gắng của các doanh nghiệp chế biến cần phải có phần quyết định của người sản xuất hồ tiêu mới thành công. Hiệp hội và các doanh nghiệp chế biến cần phối hợp với các nhà khoa học để giúp đỡ, hướng dẫn nông dân kỹ thuật thu hoạch, bảo quản tốt, đúng vệ sinh theo tiêu chí VSATTP. Nhà nước nên khuyến khích các ngân hàng cho nông dân vay vốn, để họ mua sắm trang, thiết bị trồng trọt, chăm sóc và bảo quản hiện đại hơn. Mỗi gia đình trồng hồ tiêu phải xây dựng qui trình sản xuất chặt chẽ, đúng kỹ thuật, từ khâu chọn giống, chăm sóc, đến khâu thu hoạch, bảo quản. Chẳng hạn, đầu tư xây dựng một sân phơi hồ tiêu sạch sẽ, tránh mọi tạp chất bám vào hạt mới bảo đảm chất lượng bán cho nhà chế biến. Ông Đỗ Hà Nam nhấn mạnh:
- Khi đã có thương hiệu, doanh nghiệp cần mở rộng mạng đại lý bán hàng tin cậy, tạo thuận tiện nhất cho khách hàng. Đồng thời tăng cường dịch vụ tiếp thị, quảng bá sản phẩm, nhưng quảng bá phải đúng với chất lượng thực tế.
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, thì có 95-98% lượng hồ tiêu sản xuất ở nước ta là phục vụ cho xuất khẩu. Tuy nhiên, muốn xuất khẩu hồ tiêu bền vững, lâu dài và có thêm nhiều thị trường, phải tiếp tục đầu tư nghiên cứu khoa học, để tìm ra các giống hồ tiêu tốt, có năng suất, chất lượng cao. Để xuất khẩu hiệu quả, việc điều tiết chiến lược phát triển và xuất khẩu hồ tiêu hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng. Với tình hình thị trường hiện nay và trong vài năm tới, nên giữ diện tích trồng hồ tiêu ở con số 50.000 ha và xuất khẩu ở mức 100.000 tấn/năm, ưu tiên những vùng có năng suất cao, chất lượng tốt. Bên cạnh đó, người dân cũng phải biết cách điều tiết nguồn hàng bán ra, không bán ồ ạt lúc chính vụ để giữ giá. Kinh nghiệm ở Ma-lai-xi-a là Chính phủ trực tiếp đầu tư máy móc hiện đại cho các nhà máy chế biến do Nhà nước quản lý. Kinh nghiệm này cần được vận dụng ở nước ta, trước hết là với ngành sản xuất, chế biến và xuất khẩu hồ tiêu.
Mặc dù chúng ta đang là một cường quốc xuất khẩu hồ tiêu, có thị trường rộng lớn và không sợ bị chống bán phá giá, nhưng vẫn phải chú trọng quảng bá thương hiệu, không ngừng đầu tư, nghiên cứu để nâng cao chất lượng sản phẩm. Trên thương trường, sự cạnh tranh quyết liệt là không thể tránh khỏi. Vì vậy, vẫn phải có sự phối hợp và giúp đỡ đồng bộ của 4 “nhà”: Nhà nước-doanh nghiệp-nhà nông và nhà khoa học. Đó chính là biện pháp tốt, để tận dụng thời cơ cho sức mạnh xuất khẩu hồ tiêu của nước ta.
Bài và ảnh: LÊ PHI HÙNG