Những bất đồng nội khối NATO dường như phần nào đã được xoa dịu trong cuộc họp thượng đỉnh diễn ra ngày 3 và 4-4 tại Pháp và Đức. Cuộc họp diễn ra đúng dịp 60 năm ra đời của khối quân sự này (4-4-1949/4-4-2009) và sau khi kết nạp hai thành viên mới là An-ba-ni và Crô-a-ti-na, đưa số thành viên của NATO lên con số 28. Lẽ ra kỷ niệm 60 năm ra đời của mình, NATO phải tổ chức linh đình, nhưng trong 20 năm qua tổ chức này mừng sinh nhật trong điều kiện không còn đối thủ (Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va đã tự giải tán) nên cũng chẳng cần “diễu võ giương oai”, nhất là khi NATO đã bước sang tuổi “lên lão” vào lúc cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới đang hoành hoành. Dư luận thế giới, vì thế, cũng không quá quan tâm tới những gì NATO đã làm trong 60 năm qua. Trong các cuộc biểu tình phản đối NATO nhân dịp này tại chính nước Pháp, quốc gia vừa xin trở lại tham gia Bộ Chỉ huy NATO sau hơn 40 năm từ bỏ để giữ “quyền độc lập” của mình, người biểu tình đã thể hiện quan điểm của họ đối với tổ chức quân sự lớn nhất hành tinh này bằng khẩu hiệu: “60 năm là quá đủ! Hãy nói không với NATO”. Tự khẩu hiệu này đã nói lên tất cả.

 

Tuy vậy, sẽ là ảo tưởng nếu vào lúc này đòi hỏi NATO tự giải tán như khối Vác-sa-va đã làm và như chính NATO đã từng hứa trong một “cú lừa ngoạn mục” đối với dư luận quốc tế và nước Nga-quốc gia thừa kế Liên Xô cũ cách đây hơn 20 năm. Không chỉ đang tiếp tục tồn tại mà NATO còn không ngừng mở rộng lãnh địa sang phía Đông, đồng thời đang cố vươn tầm hoạt động ra khỏi phạm vi Bắc Đại Tây Dương như nó mang tên khi tự coi mình là một công cụ bảo vệ an ninh quốc tế.

Vào tuổi 60, cỗ máy quân sự NATO có thể trạng khá rệu rã và đòi hỏi cần được xốc lại cả về tinh thần liên kết lẫn phương hướng hoạt động để tiếp tục có cớ tồn tại sau một thời gian dài bất đồng về quan điểm trên nhiều mặt. Sự chia rẽ trong NATO chủ yếu do bất đồng trong quan hệ giữa Mỹ và các nước NATO khác ở châu Âu khi ông G.Bu-sơ còn cầm quyền ở Mỹ cũng như cuộc chiến ở I-rắc và một phần là vấn đề Áp-ga-ni-xtan. Một thời, trong chính sách đơn phương của mình, Mỹ đã nắm lấy quyền sai khiến các nước NATO khác, gây khó chịu cho nhiều nước NATO ở châu Âu. Đó là một trong những lý do cơ bản để giải thích vì sao có tình trạng các nước NATO ở châu Âu đùn đẩy nhau tăng viện cho Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan hoặc không chịu đưa quân tới các khu vực ác liệt trong cuộc chiến ở Áp-ga-ni-xtan. Trong dịp này, ngoài việc xem xét những thách thức an ninh mới, nội dung Tuyên bố về an ninh đồng minh tạo cơ sở cho việc xem xét lại "Khái niệm chiến lược" của NATO nhằm định hướng cho tất cả các chiến dịch của NATO, các vị lãnh đạo NATO còn dành nhiều thời gian cho việc định hình quan hệ giữa NATO và Nga cũng như vấn đề Áp-ga-ni-xtan nóng bỏng.

Lần đầu tiên đến tham dự hội nghị Thượng đỉnh NATO, Tổng thống Mỹ B.Ô-ba-ma mang theo Chiến lược mới của Oa-sinh-tơn ở Áp-ga-ni-xtan để thuyết phục NATO. Ông cũng cảnh báo rằng, châu Âu ở gần Áp-ga-ni-xtan hơn nên dễ bị al-Qaeda tấn công hơn Mỹ, vì vậy vấn đề Áp-ga-ni-xtan cần có sự hợp tác mạnh mẽ hơn của châu Âu. Và ông đã thành công trong sứ mạng này. Chẳng phải ngẫu nhiên mà các nhà lãnh đạo NATO đã dành gần trọn ngày thứ hai của hội nghị để thảo luận về Áp-ga-ni-xtan. Giải bài toán Áp-ga-ni-xtan là một cuộc sát hạch gay cấn đối với năng lực hành động của NATO trong chiến lược vươn tầm hoạt động và ảnh hưởng của mình ra ngoài phạm vi truyền thống của tổ chức này. Nếu tiếp tục thất bại ở Áp-ga-ni-xtan thì cả NATO lẫn Mỹ sẽ bẽ mặt. Các nước NATO cam kết sẽ gửi thêm 5 nghìn quân tới Áp-ga-ni-xtan, chưa kể các cam kết riêng của Pháp, Đức, I-ta-li-a…

Tương lai của mối quan hệ nhạy cảm giữa NATO và Nga, vốn bị NATO đơn phương đình chỉ nhân cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Gru-di-a tại Nam Ô-xê-ti-a tháng 8 năm ngoái, cũng nhận được sự đồng thuận, khi các nhà lãnh đạo NATO đã nhất trí tái khởi động các cuộc đàm phán trực tiếp với Nga trong khuôn khổ Hội đồng NATO - Nga. Dù vẫn tiếp tục chỉ trích Nga duy trì sự có mặt về quân sự tại các vùng li khai của Gru-di-a và dù giữa NATO và Nga còn tồn tại nhiều bất đồng lớn khác, nhưng NATO cho rằng, Nga vẫn giữ vai trò quan trọng đặc biệt trên tư cách là một đối tác và nước láng giềng của NATO. Hai bên có chung lợi ích trong việc ổn định Áp-ga-ni-xtan, kiểm soát vũ khí và giải trừ quân bị, đấu tranh chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống khủng bố, buôn lậu ma túy và các hoạt động chống cướp biển.

Trước cuộc gặp thượng đỉnh này, NATO đã nhận được những tín hiệu từ phía Nga mong muốn khôi phục quan hệ với NATO. Tuy vậy, một khi các cuộc đối thoại và hợp tác được nối lại thì những bất đồng gay gắt giữa hai bên cũng khó có thể khỏa lấp bởi NATO vẫn không ngừng chương trình mở rộng lãnh địa về phía Đông như tạo thế bao vây Nga. Trong tuyên bố mới nhất của mình, NATO tiếp tục khẳng định sẽ kết nạp U-crai-na và Gru-di-a một khi hai nước này đáp ứng quy chế thành viên.

Về hình thức, tuyên bố được NATO đưa ra sau hội nghị, trong đó bao gồm cả việc khối quân sự này đã vượt qua những khác biệt để bầu Thủ tướng Đan Mạch An-đớt Phốc Rát-mút-xen làm Tổng Thư ký mới của tổ chức này, chứng tỏ các bất đồng nội khối đang dần được xoa dịu dù chưa chấm dứt. NATO cũng bắt đầu soạn thảo khái niệm “chiến lược mới” cho tương lai của mình.

KIM TÔN