Những tuyên bố mơ hồ nhằm “để ngỏ khả năng”?

Ngày 2-3, tại cuộc họp báo ở Lầu Năm Góc, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth cho biết hiện không có lực lượng bộ binh Mỹ nào tiến vào Iran, song ông từ chối bình luận về những hành động mà Mỹ “sẽ hoặc sẽ không thực hiện” trong thời gian tới.

Cùng ngày, Tổng thống Donald Trump nói với báo giới rằng Mỹ “chỉ triển khai lực lượng bộ binh khi cần thiết”, nhưng không giải thích rõ tiêu chí thế nào được coi là “cần thiết”. Trong cuộc phỏng vấn với tờ New York Post ngày 2-3, ông Trump cho biết không quá lo lắng về việc triển khai bộ binh tới Iran. Các tổng thống khác đều nói 'không triển khai bộ binh', nhưng tôi không nói vậy", "Tôi chỉ nói 'có lẽ không cần bộ binh' hoặc 'sẽ làm vậy nếu cần thiết'", Tổng thống Donald Trump nói. Theo hãng tin AFP, ngày 6-3, Tổng thống Donald Trump cũng khẳng định việc xem xét điều bộ binh tới Iran vào thời điểm hiện nay là “phí thời gian”.

Tuy nhiên, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio ngày 2-3 cho rằng Mỹ có thể đạt được mục tiêu của chiến dịch quân sự nhằm vào Iran mà không cần triển khai lực lượng bộ binh.

Lãnh đạo phe Cộng hòa tại Thượng viện Mỹ John Thune cũng bày tỏ quan điểm rằng ông không cho rằng Mỹ sẽ điều lực lượng bộ binh tới Iran. Theo ông, các hoạt động quân sự hiện nay của Mỹ chủ yếu dựa vào sức mạnh hải quân và không quân để tấn công mục tiêu, thay vì tiến hành một cuộc xâm nhập trên bộ.

Bình luận từ một số kênh truyền thông Mỹ nhận định rằng những phát biểu mơ hồ và phần nào mâu thuẫn của các quan chức Mỹ cho thấy chính quyền Trump có thể đang cố ý để ngỏ không gian quyết định cho khả năng triển khai lực lượng bộ binh trong tương lai, đồng thời cũng phản ánh những cân nhắc và lo ngại đáng kể của Washington đối với lựa chọn này.

Người biểu tình tại Thủ đô Washington kêu gọi chấm dứt chiến tranh tại Iran. Ảnh: vov.vn 

Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định?

Các chuyên gia cho rằng khả năng quân đội Mỹ tiến hành các hoạt động trên bộ quy mô nhỏ bên trong lãnh thổ Iran là có thể, nhưng khả năng phát động một cuộc xâm nhập trên bộ quy mô lớn tương đối thấp.

Trong một số tình huống nhất định, quân đội Mỹ có thể tiến vào lãnh thổ Iran để thực hiện các nhiệm vụ trên bộ. Ví dụ, nếu máy bay chiến đấu của Mỹ bị bắn hạ và phi công nhảy dù xuống lãnh thổ Iran, quân đội Mỹ có thể tổ chức các chiến dịch tìm kiếm - cứu nạn xuyên biên giới. Ngoài ra, Mỹ cũng có thể triển khai các đơn vị đặc nhiệm quy mô nhỏ thâm nhập vào Iran để thực hiện nhiệm vụ trinh sát tình báo hoặc phá hủy các mục tiêu giá trị cao mà không kích khó có thể thực hiện. Những hoạt động như vậy thường diễn ra trong thời gian ngắn, quy mô nhỏ và mang tính can thiệp chiến thuật hạn chế.

Từ tình hình hiện nay có thể thấy rằng, trong thời gian ngắn sắp tới, khả năng Mỹ triển khai chiến dịch trên bộ quy mô lớn là không cao. Có ít nhất 4 yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định của Washington về việc có điều lực lượng bộ binh tới Iran hay không.

Thứ nhất, xét về mục tiêu chính sách, trọng tâm trong các cuộc tấn công quân sự hiện nay của Mỹ nhằm vào Iran là làm suy yếu hệ thống lãnh đạo chính trị và chuỗi chỉ huy quân sự của Iran, tấn công chương trình hạt nhân và làm giảm năng lực tác chiến tên lửa của nước này, đồng thời kích động người dân Iran “tự mình hoàn tất” quá trình thay đổi chính quyền. Theo dự tính của chính quyền Trump, các đợt không kích quy mô lớn về cơ bản có thể đạt được những mục tiêu này, mà không cần lặp lại mô hình của các cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan, nơi quân đội Mỹ phải đóng quân lâu dài.

Thứ hai, xét từ thực tế tác chiến hiện nay, ưu thế của Mỹ và Israel nằm ở các đòn tấn công chính xác dưới sự kiểm soát ưu thế trên không, chứ không phải ở các chiến dịch tiến công trên bộ quy mô lớn. Địa hình Iran chủ yếu là núi và cao nguyên, vì vậy nếu tiến hành xâm nhập trên bộ, quân đội Mỹ sẽ cần hệ thống hậu cần quy mô lớn, đồng thời dễ phải chịu tổn thất nhân lực đáng kể trong các cuộc chiến ở địa hình núi và đô thị. Viện nghiên cứu Brookings Institution của Mỹ, khi tổng kết các chiến dịch quân sự ở nước ngoài trước đây của Washington, cũng chỉ ra rằng các chiến dịch kết hợp giữa không kích và tiến công trên bộ thường tiêu tốn nhiều nguồn lực hơn và dễ dẫn tới tình hình hỗn loạn phức tạp hơn.

Thứ ba, xét từ yếu tố chính trị trong nước, sau hai thập niên đầu thế kỷ XXI với những “cuộc chiến không hồi kết”, mức độ ủng hộ của xã hội Mỹ đối với các cuộc chiến tranh quy mô lớn kéo dài ở nước ngoài đã giảm mạnh. Việc các chính quyền của George W. Bush và Barack Obama khiến Mỹ sa lầy trong các cuộc chiến ở Trung Đông từng là luận điểm công kích quan trọng của Trump đối với các chính quyền tiền nhiệm, đồng thời cũng là nhận thức chung của lực lượng cử tri cốt lõi trong phong trào “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (MAGA). Một chiến dịch trên bộ quy mô lớn đồng nghĩa với nguy cơ thương vong cao hơn và tiêu tốn nguồn lực trong thời gian dài, và nếu chiến sự kéo dài, sự ủng hộ đối với ông Trump trong đảng cũng như trong nước có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Kết quả thăm dò do Công ty nghiên cứu dư luận SSRS (Social Science Research Solutions) của Mỹ thực hiện ngay sau khi Mỹ và Israel phát động các cuộc không kích nhằm vào Iran cho thấy, đa số người dân Mỹ không ủng hộ quyết định tiến hành hành động quân sự này.

Thứ tư, xét từ chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ, chính quyền Trump đã đưa ra khái niệm “ưu tiên Tây Bán cầu”, nhấn mạnh việc giảm vai trò của Trung Đông trong chiến lược an ninh của Mỹ. Trong bối cảnh đó, việc triển khai một lực lượng bộ binh lớn cùng nguồn lực chiến lược đáng kể tới Iran không phù hợp với sự điều chỉnh trọng tâm chiến lược toàn cầu của Washington, và cũng khó nhận được sự đồng thuận trong giới hoạch định chiến lược của Mỹ.

Tân Hoa xã dẫn ý kiến của Nhà nghiên cứu Giuseppe Spatafora thuộc Viện Nghiên cứu An ninh Liên minh châu Âu cho rằng, trong các hoạt động quân sự nhằm vào Iran, chính quyền Trump nhiều khả năng sẽ lựa chọn con đường “chi phí thấp”, tức tránh triển khai lực lượng bộ binh trực tiếp, thay vào đó tìm kiếm các lực lượng chính trị bên trong Iran sẵn sàng hợp tác với chính sách của Mỹ, thông qua việc hỗ trợ và gây ảnh hưởng đối với những lực lượng này để định hình một cấu trúc quyền lực tại Iran có lợi cho Washington. Nhận định này được củng cố bởi một diễn biến mới đây, ngày 5-3, Tổng thống Trump tuyên bố Mỹ cần tham gia lựa chọn lãnh đạo Iran, đồng thời đề nghị cung cấp sự hỗ trợ quân sự, bao gồm yểm trợ trên không cho các lực lượng đối lập người Kurd tấn công Iran.

Sự mơ hồ trong các tuyên bố của giới lãnh đạo Mỹ cho thấy Washington vẫn muốn giữ “không gian chiến lược” cho nhiều kịch bản khác nhau trong cuộc đối đầu với Iran. Tuy nhiên, xét từ mục tiêu quân sự hiện nay, điều kiện tác chiến thực tế, yếu tố chính trị trong nước cũng như định hướng điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ, khả năng Washington triển khai một chiến dịch trên bộ quy mô lớn tại Iran trong thời gian tới được đánh giá là không cao. Thay vào đó, nhiều khả năng Mỹ sẽ tiếp tục dựa vào các đòn không kích, sức mạnh hải - không quân và các biện pháp gây sức ép chính trị để theo đuổi mục tiêu chiến lược của mình, đồng thời tránh nguy cơ sa lầy vào một cuộc chiến kéo dài và tốn kém mới ở Trung Đông.