Tiến sĩ Lê Võ Định Tường

Năng lượng sinh học vẫn còn là đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam. Nói một cách nôm na, đó là nguồn năng lượng thân thiện với con người, không gây ô nhiễm môi trường, được “chế” ra từ các loại cây, quả mà nông dân Việt Nam vẫn trồng. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Lê Võ Định Tường, chuyên viên Viện Công nghệ Hóa học (thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) xoay quanh chủ đề phát triển nguồn năng lượng “kỳ bí” này tại Việt Nam.

Năng lượng dầu mỏ và năng lượng hóa thạch sẽ chấm dứt!

- Trong một cuộc hội thảo, ông từng khẳng định: Thời đại năng lượng dầu mỏ và năng lượng hóa thạch sắp chấm dứt. Sự thật là thế nào?

- Đến nay thì ai cũng có thể hiểu rằng, nguồn nguyên, nhiên liệu hóa thạch là hữu hạn. Sự tăng tốc khai thác năng lượng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia đã báo động thực trạng cạn kiệt dầu mỏ, than đá có thể xảy ra trong tương lai gần. Về khía cạnh môi trường, năng lượng hóa thạch là nguyên nhân chính dẫn đến hiệu ứng nhà kính, làm biến đổi khí hậu toàn cầu, gây ô nhiễm môi trường, tăng độ nhiễm xạ. Khí thải của các nhà máy, công xưởng, phương tiện xe máy sẽ làm gia tăng nguy cơ nhiều loại bệnh tật… Sự “chấm dứt” ở đây có thể hiểu, đó không chỉ đơn thuần là cạn kiệt nguồn năng lượng, mà cần phải từng bước giảm dần những hệ luỵ do nguồn năng lượng hóa thạch gây ra cho hành tinh. Vì vậy, cùng với các nguồn năng lượng “sạch” khác như thủy điện, sức gió, ánh nắng mặt trời, thì chúng ta cần phải phát triển năng lượng sinh học để thay thế năng lượng hóa thạch.

- Cần phải hiểu như thế nào về năng lượng sinh học, thưa ông?

- Năng lượng sinh học gồm các loại như sinh khối, bio-diesel, bio-gasohol, cồn…, là năng lượng “sạch”, thân thiện với môi trường vì nó làm giảm khí thải CO2 và các khí ô nhiễm khác. Nguyên liệu để làm ra nguồn năng lượng hữu ích này chủ yếu dựa vào cây, quả thông qua trồng rừng, phát triển các trang trại nông nghiệp. Điều đó cũng sẽ góp phần làm xanh, sạch Trái Đất, tạo nên các hiệu ứng có lợi từ rừng như xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân

- Chúng ta vẫn nhắc đến nguồn nhiên liệu sinh học, cụ thể hơn là loại dầu diesel sinh học được chiết xuất từ các loại cây, quả. Ông có thể nói rõ hơn đó là loại cây nào?

- Theo các tài liệu nghiên cứu và thực tế sử dụng ở nhiều nước trên thế giới, nhiên liệu sinh học chủ yếu gồm ethanol sinh học và diesel sinh học. Ethanol sinh học có thể sản xuất từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau như sắn, mía, ngô, đậu tương, mỡ cá... Còn diesel sinh học có thể sản xuất từ các cây cọc rào, cọ dầu, hoàng liên mộc, văn quan, bánh dầy, dừa, táo ta…

Đối với nước ta, việc định hướng phát triển diesel sinh học sẽ có nhiều thuận lợi. Trong số những loài cây có khả năng sản xuất diesel sinh học thì cây cọc rào được chú ý hơn cả, bởi đó là cây dễ trồng, biên độ sinh thái rộng, khả năng chống chịu tốt và hàm lượng dầu trong hạt khá cao.

Nên khuyến khích trồng cây cọc rào

- Thực ra cây cọc rào như ông nói là loại cây nào? Hiệu quả thực sự của nó?

- Đúng là nhiều người chưa hiểu nhiều về loại cây này. Có thể hiểu một cách khái quát như sau: Cọc rào còn gọi là cây dầu mè, cây bã đậu, “cây diesel”, có tên khoa học là Jatropha curcas.L. Đó là một loại cây bụi lưu niên, sinh trưởng và phát triển tốt trên các vùng có độ cao so với mặt nước biển. Như tôi đã nói ở trên, cây có đặc tính chịu hạn rất khỏe, có thể mọc ở nơi khô hạn từ 8 đến 9 tháng vẫn không bị chết, thích hợp trên đất cát pha và có thể sinh trưởng, phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, kể cả đất sỏi đá và nhiễm mặn, trừ đất bị ngập úng. Thân cây mọng nước, lá dày rất khó cháy, trong thân và lá có nhựa, còn trong hạt có chất độc nên trâu bò, gia súc, chuột không phá hoại và ít bị sâu bệnh.

Loại cây này sinh trưởng rất nhanh, sau khi trồng 6 tháng đến 1 năm đã cho quả, khoảng 5 năm cho năng suất ổn định. Chu kỳ sống là 30-40 năm. Năng suất quả của nó phụ thuộc vào giống và kỹ thuật canh tác, năng suất biến động từ 3-10 tấn hạt/ha với tỷ lệ dầu trong hạt cũng rất khác nhau (khoảng từ 25 đến 38%), sản lượng ép thành dầu diesel sinh học từ 1 đến 3 tấn dầu thô/ha. Điều đáng nói là loại dầu này không cần chế biến phức tạp, có thể dùng cho động cơ diesel mà không cần có thay đổi gì về máy móc.

Trồng cây cọc rào là một giải pháp thiết thực và nên khuyến khích. Bởi vì, nó vừa bổ sung nguồn nhiên liệu sinh học, nâng cao sự ổn định an ninh năng lượng quốc gia, vừa góp phần xoá đói, giảm nghèo và làm tăng độ che phủ, cải tạo môi trường trên những vùng đất trống, đồi trọc, khu vực hoang hóa.

Khởi động chương trình phát triển nhiên liệu sinh học

- Việc phát triển công nghệ sinh học ở nước ta hiện nay ra sao?

- Đối với nước ta, nghiên cứu, sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ. Nhằm thúc đẩy các hoạt động về lĩnh vực này, ngày 20-11-2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn 2025. Tiếp đó, tháng 6-2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã có quyết định phê duyệt đề án “Nghiên cứu, phát triển và sử dụng cây cọc rào ở Việt Nam giai đoạn 2008-2015 tầm nhìn đến năm 2020”. Mục tiêu là tạo ra một ngành sản xuất nông nghiệp mới, thông qua việc hình thành vùng nguyên liệu gắn với phát triển công nghiệp chế biến dầu diesel sinh học có hiệu quả cao, quy mô ngày càng lớn. Chủ yếu là sử dụng đất đai ở các vùng hoang hóa, khô cằn, đất trống đồi, núi trọc, những nơi canh tác nông nghiệp năng suất thấp, góp phần cải thiện đời sống của người dân ở các vùng khó khăn, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.

- Xin ông nói rõ hơn những mục tiêu cụ thể?

- Theo tôi được biết, trước mắt, trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ triển khai thực hiện có kết quả chương trình nghiên cứu toàn diện từ giống, biện pháp kỹ thuật gây trồng đến chế biến và sử dụng dầu diesel sinh học từ hạt cây cọc rào. Sau đó, từng bước trồng thử nghiệm, khảo nghiệm và sản xuất thử ở các vùng sinh thái khác nhau đạt quy mô diện tích khoảng 30.000ha. Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các dây chuyền chế biến công suất nhỏ từ 3.000 đến 5.000 tấn dầu thô/năm. Đến năm 2015 tổng công suất chế biến phấn đấu đạt khoảng 300.000 tấn dầu thô/năm và định hướng đến 2025 tổng công suất chế biến có thể đạt 1 triệu tấn dầu thô/năm, đảm bảo thay thế khoảng 10-15% lượng dầu diesel nhập khẩu.

- Xin cảm ơn ông!

LÊ THIẾT HÙNG (thực hiện)