Với năng suất và sản lượng đứng đầu thế giới, nhiều nhà phân tích cho rằng, thời cơ vàng đang đến với cây hồ tiêu Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan thì thời cơ ấy chứa đựng trong nó không ít lỗ hổng. Và nếu không có những giải pháp kịp thời, rất có thể cây hồ tiêu lại hát lại điệp khúc “chặt, trồng – trồng, chặt” như nhiều loại cây công nghiệp khác

Đứng số một nhưng vẫn chưa có thương hiệu?

So với nhiều cây trồng khác, hồ tiêu là cây ít tốn đất, tiêu hao nhiều lao động nên rất phù hợp với bình quân ruộng đất thấp ở nước ta. Nếu lấy giá thấp nhất là 15.000 đồng/kg thì doanh thu của hồ tiêu vẫn đạt 30 triệu đồng/ha, còn cao hơn một số cây trồng khác. Điều đó cho thấy, hồ tiêu là loại cây rất kinh tế đối với người nông dân. Chính vì thế, diện tích cây hồ tiêu đã tăng chóng mặt từ năm 1995 với 7.000ha, đến nay cả nước đã có hơn 50.000ha. Mặc dù sự phát triển ồ ạt một cách tự phát nhưng sản lượng hồ tiêu Việt Nam vẫn tăng đột biến từ 20 – 25 nghìn tấn từ những năm 1994 – 1998 lên 50 – 85 nghìn tấn vào thời kỳ 1999 – 2003 và đạt đỉnh cao 100 – 110 nghìn tấn từ năm 2004 – 2006.

Điều đáng nói ở đây là trong khi trên thế giới sản lượng đều giảm còn chưa đến 1 tấn/ha thì cây hồ tiêu Việt Nam vẫn cho sản lượng 2,5 tấn/ha. Đây là điều đáng mừng của cây hồ tiêu Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, năm 2006 chúng ta đã xuất khẩu được khoảng 110 nghìn tấn hạt tiêu, chiếm hẳn một nửa thị trường trên toàn thế giới. Hồ tiêu Việt Nam chiếm lĩnh ngôi vị số một thế giới về sản lượng xuất khẩu mặt hàng này từ năm 2003. Đồng thời, hạt tiêu Việt Nam đã có mặt ở 100 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khắp các châu lục. Tuy nhiên, trớ trêu thay, chúng ta lại chưa thể gắn cho hạt tiêu Việt Nam một thương hiệu mang tầm cỡ quốc gia để dễ bề ăn nói với tư cách là một “ông lớn” khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế!

Chăm sóc hồ tiêu (ảnh internet)

Nguyên nhân của vấn đề này nằm ở chỗ cách sản xuất manh mún của người nông dân. Để giải quyết thực trạng này, ngành hồ tiêu đã “đánh lẻ” ở từng vùng, từng địa phương… tuy nhiên đây chỉ là giải pháp tạm thời và cũng manh mún. Chuyên viên Tư vấn thương hiệu Đoàn Đình Hoàng cho rằng: “Cách làm thương hiệu cho cây hồ tiêu Việt Nam như hiện nay còn mang tính chắp vá, mới chỉ xây dựng ở từng vùng, từng tỉnh mà chưa có một thương hiệu quốc gia trong khi ra nước ngoài, người tiêu dùng chỉ biết đến Made in Vietnam. Điều này sẽ có hại cho cả ngành hồ tiêu Việt Nam nếu có một thương hiệu hồ tiêu nào đấy của chúng ta làm ăn gian dối. Đó là chưa kể việc “gà nhà đá nhau” khi cạnh tranh trên thị trường thế giới. Thực tế cho thấy, Nhà nước và Hiệp hội chưa có những giải pháp đồng bộ từ việc sản xuất, chế biến cho đến xây dựng thương hiệu hồ tiêu Việt Nam".

Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam thì giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn sản phẩm cùng loại của các nước từ 100 đến 200USD/tấn do chất lượng kém. Hiện nay, tất cả sản phẩm hồ tiêu Việt Nam đều bị quy chụp là chất lượng kém và bị ép giá khi cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đây chính là bất cập lớn nhất của cây hồ tiêu Việt Nam.

Chớ chủ quan!

Ông Đỗ Hà Nam cho rằng, từ nay đến tháng 7 năm nay, Việt Nam chiếm lĩnh toàn bộ thị trường hồ tiêu thế giới, vì đây là thời điểm thu hoạch của chúng ta. Do đó, nông dân có thể trữ hàng lại và chọn thời điểm tốt nhất với giá hợp lý nhất để bán. Mấy ngày qua, giá tiêu thế giới tăng đều đặn mỗi ngày 100USD/tấn và có thể lên đến 4.000 – 4.500USD/tấn hoặc cao hơn nữa. Có thể mọi người đều nghĩ rằng càng thiếu hàng, giá càng lên… và cứ găm hàng chờ thời! Tuy nhiên, xu hướng này có thể gây bất lợi khi giá lên quá cao, thị trường sẽ ngưng để nghe ngóng và thế là giá sẽ giảm một cách nhanh chóng. Thay vì giá thấp thì trữ hàng nhưng không ít nông dân lại làm ngược lại và thế là giá lại càng giảm thê thảm hơn.

Theo dự báo của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, trong năm 2007, sản lượng hạt tiêu thế giới sẽ tiếp tục giảm 15% – 20% so với năm 2006. Trong đó, Ấn Độ giảm tới 50%, chỉ còn 35.000 tấn so với năm 2006. Sản lượng hồ tiêu Việt Nam trong năm nay, ước tính cũng sẽ giảm khoảng 20% – 30% so với năm 2006. Chính vì thế, giá hạt tiêu đã được đẩy lên khá cao với mức trung bình trong tháng 3 đạt hơn 2.600USD/tấn, tăng 8% so với đầu năm và tăng tới 88% so với cùng kỳ năm 2006. Đầu tháng 4-2007, giá rao bán của Việt Nam đã tăng trên 2.800USD/tấn. Theo Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 3 tháng đầu năm 2007, Việt Nam xuất khẩu được gần 17 nghìn tấn, đạt giá trị hơn 43 triệu USD, giảm 43% về số lượng nhưng lại tăng 4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006.

Nhờ xuất khẩu mạnh nên giá trong nước cũng đã tăng cao. Nếu như trung tuần tháng 1 giá tiêu đen là 35.000 đồng/kg thì trung tuần tháng 3 là 47.000 đồng/kg và hiện nay đã là hơn 60.000 đồng/kg. Do giá tăng liên tục nên bà con nông dân bán cầm chừng, găm hàng chờ giá tăng thêm nữa. Các lò chế biến tiêu sọ, tiêu trắng cũng gom hàng dự trữ tiêu đen (nguyên liệu) để chế biến dần, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu càng làm cho nguồn cung thêm khan hiếm và giá càng được đẩy lên cao hơn. Ông Đỗ Hà Nam dự báo, giá tiêu thế giới có thể còn tăng cao hơn nữa với mức 5.000 – 6.000USD vào năm 2009. Ông Nam khuyến cáo, bà con có thể găm hàng lại chờ giá cao nhưng khi có mức giá hợp lý, chúng ta không nên bán ồ ạt gây bất lợi cho bà con.

CA HẢO