Thời gian qua, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ đã tập trung triển khai Chương trình công tác năm 2008, thực hiện Quyết định 26/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển KT-XH gắn với xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ quốc phòng an ninh cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là khu vực biên giới, hải đảo, vùng có đông đồng bào các dân tộc.
Về vấn đề này, chúng tôi có cuộc trao đổi với đồng chí Lưu Phước Lượng, Phó trưởng ban Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ.
- Xin đồng chí cho biết: Theo Quyết định số 26/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ đã có những nội dung trọng tâm gì để triển khai các cơ chế, chính sách mới hỗ trợ phát triển vùng?
- Theo Chương trình công tác, chúng tôi sẽ tập trung theo dõi, chỉ đạo toàn diện ở cấp độ vùng trên các mặt kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, dân tộc – tôn giáo và xây dựng hệ thống chính trị. Đồng thời, còn làm đầu mối phối hợp giữa các bộ, ngành Trung ương với các địa phương trong vùng triển khai thực hiện các nhiệm vụ công tác; tham mưu, đề xuất cho Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ những vấn đề trọng tâm, đột xuất có tác động chi phối đối với cả vùng.
Trước hết, chúng tôi đổi mới nội dung, phương pháp công tác, lấy địa phương, cơ sở làm trung tâm, thực hiện lồng ghép với các nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất theo từng thời điểm. Tập trung triển khai 5 cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long từ nay đến năm 2010 gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đó là: Các chính sách chủ yếu đối với nông nghiệp, phát triển nông thôn; Chính sách đất đai cho nông dân không có đất, thiếu đất sản xuất; Chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số; Cơ chế chính sách về huy động nguồn lực cho phát triển vùng; Cơ chế, chính sách hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước cho vùng.
- Thưa đồng chí, thời gian qua Chính phủ đã có nhiều cơ chế chính sách cho nông nghiệp, nông thôn và đồng bào dân tộc, với Quyết định lần này, có nội dung gì mới so với trước đây?
- Tuy từ lâu vùng này được xác định là trọng điểm nông nghiệp bậc nhất của cả nước, hằng năm cung cấp 50% sản lượng lúa, 90% số lượng gạo xuất khẩu, 70% lượng trái cây, 52% sản lượng thủy sản và gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước, nhưng nghịch lý là giao thông, thủy lợi, giáo dục và đào tạo, dạy nghề vẫn là lĩnh vực rất yếu kém nhất, thậm chí tụt hậu xa so với các vùng, miền khác. Vừa qua, Trung ương và địa phương đã tập trung đầu tư, toàn vùng đã có bước phát triển mới. Song, trong tình hình mới, cần có thêm cơ chế chính sách mới bổ sung, hoặc để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa việc đầu tư phát triển vùng và nhất là chăm lo cho đồng bào các dân tộc như: Việc hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc; một số địa phương không còn quỹ đất, Chính phủ cho phép được hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề bằng cách đào tạo nghề, thu hút lao động vào các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, các khu công nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào vùng có đông đồng bào Khơ-me. Chính sách mới cho phép thực hiện ưu đãi cụ thể đối với những doanh nghiệp đầu tư vào các vùng này và những dự án sử dụng nhiều người lao động là người dân tộc thiểu số.
- Vâng, thế là có nét “xã hội hóa” khi triển khai thực hiện các chính sách?
- Đúng thế! Như vậy thì ngoài ngân sách, Chính phủ đã “xã hội hoá” nguồn hỗ trợ, chăm lo cho đồng bào bằng cách khuyến khích đầu tư. Chính phủ còn cho phép hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước để xây dựng trường lớp riêng cho trẻ em vùng đồng bào dân tộc Khơ-me và sư sãi Nam tông, xây dựng lò hỏa táng trong vùng đồng bào dân tộc, hỗ trợ đối với giáo viên (kể cả nhà sư) dạy bổ túc chữ Khơ-me ở các chùa; miễn đóng góp các khoản tiền cho học tập, khám chữa bệnh của nhà nước và miễn giảm các khoản đóng góp khác của các địa phương đối với gia đình đồng bào dân tộc nghèo; mở rộng diện cử tuyển cho học sinh người dân tộc thiểu số; cấp học bổng bằng 50% mức học bổng nội trú hiện hành cho học sinh là người dân tộc thiểu số nghèo thuộc diện học ở các trường nội trú, nhưng đang học ở các trường công lập, bán công.
- Thưa đồng chí, bằng cách nào để triển khai thực hiện Chương trình và các cơ chế chính sách đó một cách hiệu quả nhất?
- Quyết định 26/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng nêu rõ, giao các bộ, ngành Trung ương và địa phương chịu trách nhiệm triển khai thực hiện cụ thể các cơ chế, chính sách, định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo tình hình, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ. Đối với Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, phương thức làm việc phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, điều kiện cụ thể của ban, phải phù hợp với nội dung từng công việc; có việc trọng tâm đột xuất, Ban chỉ đạo phải giữ vai trò chủ trì, chủ động phối hợp chỉ đạo thực hiện; có việc làm đầu mối phối hợp các lực lượng của Trung ương và địa phương để tham mưu đề xuất những vấn đề chung có liên quan; hoặc chỉ ở mức độ cử cán bộ tham gia phối hợp cùng các bộ, ngành Trung ương và địa phương những nội dung công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành Trung ương và địa phương có liên quan vùng đồng bằng sông Cửu Long; hay theo dõi, tổng hợp báo cáo tình hình cho Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cấp vùng. Nếu triển khai tốt theo phương thức đó, thì hoạt động của ban chẳng những không chồng chéo, giẫm chân lên hoạt động của các bộ, ngành Trung ương và địa phương, mà còn tăng cường vai trò chỉ đạo, đầu mối, phối hợp, hỗ trợ. Đây cũng là kinh nghiệm thực tiễn 5 năm hoạt động của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ. Để thực hiện có hiệu quả 5 cơ chế, chính sách mới của Đảng và Nhà nước đối với vùng, chúng tôi đang dồn sức cùng các địa phương tạo ra được những dấu ấn mới, mang tính đột bứt phá mới, thực sự có chất lượng cho sự phát triển và tăng trưởng toàn vùng.
- Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ sẽ đề xuất với Trung ương và Chính phủ triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách đó như thế nào, thưa đồng chí?
- Nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ là chỉ đạo phát triển kinh tế-xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh, chăm lo tốt hơn cho nông dân và đồng bào dân tộc trong vùng. Từ nay đến cuối năm, chúng tôi sẽ tập trung đôn đốc, nhắc nhở triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển vùng, trước mắt tập trung vùng 3 việc lớn sau:
Một là chủ động đề xuất, xây dựng đề cương, phối hợp các bộ, ngành Trung ương, cơ quan có liên quan và địa phương tiến hành khảo sát thực trạng tình hình nông dân đồng bằng sông Cửu Long trước yêu cầu hội nhập và phát triển trong tình hình mới.
Vừa qua, chúng tôi đã tổ chức Hội nghị cấp vùng tại Vĩnh Long với sự có mặt của đại diện các Bộ: Tài chính, Công thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành Tây Nam Bộ để bàn những giải pháp, qua đó đề xuất với Chính phủ chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu vùng đồng bằng sông Cửu Long do giá cả trong nước, nhất là giá vàng và các mặt hàng thiết yếu tăng cao, đồng USD mất giá.
Hai là kiểm tra nắm tình hình triển khai và tổ chức thực hiện kế hoạch nhà nước về kinh tế-xã hội và ngân sách năm 2008, gắn với việc triển khai thực hiện Quyết định số 26/2008/QĐ-TTg ngày 5-2-2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội đối với các tỉnh, thành phố đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010.
Ba là tiến hành khảo sát tình hình biên giới Tây Nam tại An Giang và biên giới trên biển tại Kiên Giang và Cà Mau; đồng thời phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 9 cùng các bộ, ngành Trung ương có liên quan và địa phương chỉ đạo triển khai đầu tư xây dựng các xã điểm phát kinh tế - xã hội toàn diện gắn với quốc phòng an ninh. Trước mắt, đề nghị Bộ Tư lệnh Quân khu 9 chủ trì phối hợp khảo sát, xây dựng tiêu chí cho việc xây dựng 3 xã điểm được các địa phương chọn lựa thuộc các tỉnh: An Giang, Trà Vinh và Hậu Giang để rút kinh nghiệm nhân rộng mô hình.
- Xin cảm ơn đồng chí!
TRẦN HỮU HIỆP thực hiện