QĐND - Hoạt động hòa giải ở cơ sở góp phần tăng cường tình đoàn kết, làm giảm áp lực cho chính những người trong cuộc và cho cả các cơ quan Nhà nước…

80% hòa giải thành

Hoạt động hòa giải ở cơ sở trong thời gian qua đạt được nhiều kết quả đáng mừng, khẳng định được tầm quan trọng trong xã hội. Theo đánh giá của Bộ Tư pháp trong buổi họp báo công bố Luật Hòa giải ở cơ sở, hoạt động hòa giải ở cơ sở đã “góp phần tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải chuyển đến tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho Nhà nước và nhân dân, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển”.

Họp dân cư tại phường Kim Giang, quận Thanh Xuân (Hà Nội) để giải quyết khiếu nại của người dân về lắp đặt hệ thống nước sinh hoạt. Ảnh: Hưng Mạnh.

Tổng hợp kết quả 13 năm thi hành Pháp lệnh Về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở của 63 tỉnh, thành phố cho thấy, hiện nay, trên cả nước đã có 11.251 tổ hòa giải với 628.530 hòa giải viên. Tính từ năm 1999 đến tháng 3-2012, trong tổng số 4.358.662 vụ việc nhận hòa giải có tới 3.488.144 vụ việc hòa giải thành, đạt tỷ lệ 80%. Như vậy, công việc hòa giải ở cơ sở đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn, vi phạm và tranh chấp nhỏ ở cơ sở, đồng thời giảm được rất nhiều đầu việc cho các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và xử lý đơn thư của nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được như trên, hoạt động hòa giải ở cơ sở cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định, ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả hòa giải cũng như chưa thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân sử dụng phương pháp này. Chính vì vậy, việc Quốc hội thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở và Chủ tịch nước ký lệnh công bố luật này là cần thiết, góp phần đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Nội dung cơ bản của Luật

Luật Hòa giải ở cơ sở bao gồm 5 chương, 33 điều.

Chương I có 6 điều, bao gồm những quy định chung nhất, mang tính nguyên tắc như xác định phạm vi điều chỉnh của luật, giải thích từ ngữ, phạm vi hòa giải ở cơ sở, nguyên tắc tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở, hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.

Theo quy định của Chương I, Nhà nước khuyến khích các bên giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng hình thức hòa giải ở cơ sở và các hình thức hòa giải thích hợp khác. Tuy nhiên, việc hòa giải phải được tiến hành dựa trên sự tự nguyện của các bên, trên cơ sở tuân thủ chính sách, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân. Nhà nước sẽ hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở để biên soạn, phát hành tài liệu; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở; chi thù lao cho hòa giải viên theo vụ, việc và hỗ trợ các chi phí cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Chương II có 9 điều quy định về hòa giải viên, tổ hòa giải ở cơ sở. Theo đó, người có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín, có khả năng thuyết phục, vận động và có hiểu biết pháp luật có thể được bầu hoặc công nhận là hòa giải viên. Việc bầu hòa giải viên sẽ do Trưởng ban Công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức thông qua 3 hình thức: Biểu quyết, bỏ phiếu kín hoặc gửi phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình. Người được bầu làm hòa giải viên sẽ được chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định công nhận là hòa giải viên. Tùy theo tình hình thực tế tại địa phương, chủ tịch UBND cấp xã có quyền quyết định số hòa giải viên trong 1 tổ hòa giải, nhưng mỗi tổ phải bảo đảm có từ 3 hòa giải viên trở lên và có hòa giải viên nữ.

Chương III có 12 điều quy định về hoạt động hòa giải ở cơ sở. Chương này quy định cụ thể về trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành hòa giải. Nếu hòa giải thành, các bên sẽ thỏa thuận về việc lập biên bản hòa giải thành với chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và hòa giải viên. Trong quá trình thực hiện thỏa thuận hòa giải thành, nếu một bên không thể thực hiện được do bất khả kháng thì có trách nhiệm trao đổi, thỏa thuận với bên kia và thông báo cho hòa giải viên biết. Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các bên thực hiện thỏa thuận hòa giải thành với những vụ việc do mình trực tiếp giải quyết. Trường hợp hòa giải không thành, hòa giải viên sẽ hướng dẫn các bên hoặc tiếp tục theo con đường hòa giải, hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo luật định.

Chương IV quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hòa giải ở cơ sở với 3 điều khoản cụ thể. Điều 28 quy định, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về hòa giải ở cơ sở. Điều 29 quy định, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại địa phương; UBND cấp xã có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp tổ chức thực hiện, xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ cho hoạt động hòa giải, tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở. Điều 30 quy định, Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, các tổ chức thành viên của MTTQ có trách nhiệm thực hiện hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

Chương V gồm 3 điều quy định về điều khoản thi hành. Theo đó, Luật Hòa giải ở cơ sở có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2014.

MINH THẮNG