Đồng chí VĂN THỊ BẠCH TUYẾT, Phó bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh: Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định-TP Hồ Chí Minh trong tiến trình hiện thực hóa ước mong độc lập, thống nhất non sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Người luôn đau đáu một ước mong lớn nhất: Nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối, đồng bào Nam-Bắc sum họp một nhà.
Trong tiến trình hiện thực hóa khát vọng đó, Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định-TP Hồ Chí Minh giữ vị trí đặc biệt: Vừa là chiến trường trọng điểm, nơi hội tụ tinh thần, ý chí đấu tranh cách mạng, vừa là nơi ghi dấu thắng lợi trọn vẹn của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày đất nước thống nhất, vinh dự được mang tên Bác kính yêu, TP Hồ Chí Minh luôn là địa bàn tiêu biểu trong xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Nhìn lại lịch sử, chưa đầy một tháng sau khi giành được chính quyền, ngày 23-9-1945, được quân Anh hậu thuẫn, thực dân Pháp nổ súng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định trở thành nơi mở đầu cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, sớm bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc trước khi cả nước bước vào Toàn quốc kháng chiến, tháng 12-1946.
 |
| Đồng chí Văn Thị Bạch Tuyết. |
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dù chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn ngay giữa địa bàn đầu não của địch, quân và dân Sài Gòn-Gia Định vẫn kiên cường đấu tranh, góp phần cùng cả nước đi tới thắng lợi.
Phong trào đấu tranh cách mạng ở Sài Gòn-Gia Định phát triển mạnh mẽ với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Đây là biểu hiện sinh động của việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà hai lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.
Đỉnh cao của quá trình ấy là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn-Gia Định ngày 30-4-1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đó là thời khắc hiện thực hóa trọn vẹn ước mong lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất. Từ đây, Thành phố bước sang trang sử mới với tên gọi TP Hồ Chí Minh.
Sau ngày 30-4-1975, đất nước thống nhất nhưng phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Trong bối cảnh ấy, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh bước vào chặng đường mới thực hiện ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
 |
Các đại biểu dự hội thảo.
|
Trong công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện, TP Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đi đầu với tư duy năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Thành phố đã đưa ra nhiều mô hình, phương thức hiệu quả trong quản lý, điều hành và phát triển kinh tế-xã hội, đóng góp quan trọng vào thực tiễn đổi mới của cả nước. Việc thực hiện ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì thế không chỉ dừng lại ở thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn ở quá trình xây dựng Thành phố trở thành đầu tàu kinh tế, trung tâm lớn về thương mại, dịch vụ, tài chính, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo và đổi mới sáng tạo của cả nước.
Thiếu tướng, GS, TS, NGND VŨ THANH HIỆP, Phó hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2: Xây dựng bản lĩnh, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường cho đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường sĩ quan quân đội
Từ ý nghĩa, giá trị hai lời kêu gọi kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong điều kiện thực tế hiện nay, việc xây dựng bản lĩnh, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường cho đội ngũ cán bộ, giảng viên cần được hình thành như một phẩm chất tổng hợp, bao gồm sự kiên định về lập trường tư tưởng, năng lực tư duy độc lập, khả năng làm chủ khoa học, công nghệ và ý thức trách nhiệm nghề nghiệp.
Bản lĩnh của người cán bộ, giảng viên quân đội phải được biểu hiện ở sự trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; giữ vững phẩm chất đạo đức quân nhân, sự liêm chính trong học thuật và tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Người giảng viên phải thực sự là điểm tựa tinh thần, tấm gương về bản lĩnh chính trị và nhân cách sư phạm cho học viên noi theo.
Tuy nhiên, bản lĩnh chính trị trong điều kiện hiện nay không thể chỉ dừng lại ở sự kiên định về nhận thức, mà còn phải được nâng lên thành khả năng vừa khai thác tinh hoa của tri thức hiện đại, vừa đi sâu tổng kết, khái quát từ thực tiễn. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, giảng viên phải có khả năng hiểu đúng bản chất chiến tranh công nghệ cao, không tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, trang bị hiện đại, mà luôn khẳng định vai trò quyết định của con người, của chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam.
 |
| Thiếu tướng, GS, TS, NGND Vũ Thanh Hiệp. |
Cùng với đó, xây dựng bản lĩnh cho đội ngũ cán bộ, giảng viên phải gắn với phát triển tư duy độc lập và năng lực phản biện khoa học. Nếu thiếu tư duy độc lập, tự chủ, người giảng viên dễ rơi vào tình trạng sao chép máy móc hoặc bảo thủ, khép kín, không tiếp thu tinh hoa quân sự thế giới. Tự chủ không chỉ là làm chủ tri thức hiện có, mà còn là năng lực nghiên cứu, sáng tạo tri thức.
Xây dựng ý chí tự lực cho đội ngũ cán bộ, giảng viên có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng giáo dục-đào tạo. Tự lực không chỉ là tinh thần vượt khó mà còn là khả năng chủ động chiếm lĩnh tri thức, làm chủ phương tiện dạy học hiện đại và sáng tạo trong hoạt động sư phạm quân sự. Đặc biệt, tự lực trong điều kiện hiện nay phải được nâng lên thành năng lực làm chủ khoa học, công nghệ quân sự hiện đại.
Trên nền tảng đó, tự cường chính là biểu hiện cao nhất của quá trình phát triển nội lực cá nhân. Tự cường không đơn thuần là ý chí vượt khó, mà còn là năng lực tự tổ chức sự phát triển của bản thân trong môi trường tri thức và công nghệ luôn biến đổi.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, nếu thiếu bản lĩnh tự cường rất dễ dẫn tới sự “xói mòn lý tưởng cách mạng”, làm suy giảm tính chiến đấu trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học quân sự. Vì vậy, tự cường trước hết là sự kiên định về ý thức chính trị, đồng thời là khả năng chủ động hội nhập về trí tuệ, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa quân sự của nhân loại, mà không đánh mất nền tảng tư tưởng và bản sắc nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Đây cũng là sự vận dụng sáng tạo và cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng bản lĩnh, phẩm chất cần có cho đội ngũ nhà giáo trong các trường sĩ quan quân đội hiện nay.
Thiếu tướng VŨ VĂN ĐIỀN, Tư lệnh Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh: Phát huy giá trị lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, xây dựng LLVT TP Hồ Chí Minh vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Giá trị cốt lõi của Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến không chỉ ở tinh thần “toàn quốc kháng chiến”, mà còn ở tư tưởng lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, gắn lực lượng vũ trang với nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta kế thừa, phát triển thành quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
 |
| Thiếu tướng Vũ Văn Điền. |
TP Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, khoa học-công nghệ, đối ngoại của cả nước; đồng thời là địa bàn chiến lược trọng yếu về quốc phòng, an ninh khu vực phía Nam. Trong điều kiện đó, lực lượng vũ trang Thành phố giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa trực tiếp sẵn sàng chiến đấu, vừa là nòng cốt tham mưu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ vững chắc, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho Thành phố phát triển nhanh, bền vững.
Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đó, lực lượng vũ trang Thành phố đã tập trung thực hiện đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân và khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.
Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trong điều kiện đô thị đặc biệt.
Quán triệt tư tưởng “toàn dân đánh giặc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang Thành phố đã chủ động tham mưu giúp Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương. Nổi bật là gắn xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội; tích hợp yêu cầu quốc phòng và an ninh vào quy hoạch phát triển Thành phố.
Việc triển khai Nghị định số 21/2019/NĐ-CP của Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ được thực hiện đồng bộ, phù hợp đặc điểm đô thị đặc biệt. Các tiềm lực chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh từng bước được củng cố; thế trận phòng thủ được xây dựng liên hoàn, có chiều sâu, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong điều kiện đô thị hiện đại. Lực lượng vũ trang Thành phố duy trì hiệu quả cơ chế phối hợp với Công an và các lực lượng chức năng trong nắm tình hình, xử lý kịp thời các tình huống phức tạp, không để bị động, bất ngờ.
 |
| Quang cảnh buổi hội thảo. |
Xây dựng lực lượng vũ trang Thành phố vững mạnh về chính trị - nền tảng của sức mạnh chiến đấu.
Lực lượng vũ trang Thành phố luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ; thường xuyên đổi mới công tác giáo dục chính trị gắn với yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm địa bàn đô thị lớn. Trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường, không gian mạng và âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, lực lượng vũ trang Thành phố đã triển khai nhiều giải pháp giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, ngăn chặn hiệu quả nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Bên cạnh đó, Thành phố không ngừng đẩy mạnh xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; dự bị động viên hùng hậu, chất lượng cao - hiện thân sinh động của sức mạnh toàn dân; nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh, công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; phát huy vai trò nòng cốt trong phòng, chống dịch bệnh và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc…
Tiến sĩ NGUYỄN THU VÂN, Giám đốc Trung tâm Sử học, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ: Thực tiễn phát huy tinh thần tự lực, tự cường của quân và dân Nam Bộ để lại nhiều bài học quý
Nam Bộ là vùng đất mà cư dân được hình thành từ khai phá, cộng cư của nhiều tộc người khác nhau, với điều kiện tự nhiên đặc thù và truyền thống lao động bền bỉ.
Chính môi trường lịch sử, văn hóa và xã hội ấy đã tạo nên tính cách năng động, nghĩa hiệp, đoàn kết và tinh thần vượt khó, tự lực, tự cường của người Nam Bộ. Tinh thần tự lực, tự cường đã trở thành đặc trưng nổi bật, là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp trong suốt hai cuộc kháng chiến của quân và dân Nam Bộ. Những kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh ở Nam Bộ đã để lại nhiều giá trị lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Trước hết, sức mạnh của nhân dân là nhân tố quyết định đối với thắng lợi của cách mạng. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, nhân dân không chỉ là lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu, mà còn là hậu phương vững chắc của cách mạng thông qua việc nuôi giấu cán bộ, bảo vệ cơ sở, bảo đảm hậu cần và duy trì phong trào đấu tranh.
 |
| Tiến sĩ Nguyễn Thu Vân. |
Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay phải lấy việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân làm gốc, lấy nhân dân làm trung tâm của mọi quyết sách phát triển; thường xuyên chăm lo đời sống, nguyện vọng của dân để tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc, nhân tố quyết định để bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.
Thư hai là bài học về ý chí vượt khó và phát huy nội lực dân tộc. Trong hoàn cảnh kháng chiến ác liệt, thiếu thốn về vật chất và thường xuyên bị bao vây, cô lập, quân và dân Nam Bộ vẫn chủ động xây dựng lực lượng, bảo đảm hậu cần tại chỗ và duy trì phong trào cách mạng lâu dài.
Bài học này tiếp tục có giá trị trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, là chủ động nâng cao năng lực nội sinh, phát huy sức mạnh dân tộc và khả năng thích ứng trước những biến động của tình hình thế giới.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tiếp tục là bài học quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay.
Bài học về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc vẫn vẹn nguyên giá trị. Trong chiến tranh, chính sự gắn bó chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang với nhân dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ căn cứ địa và duy trì phong trào cách mạng. Hiện nay, việc xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân tiếp tục là yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững môi trường hòa bình.
Những bài học lịch sử về tinh thần tự lực, tự cường của quân và dân Nam Bộ là hành trang quý báu để vùng đất Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung tiếp tục đổi mới, sáng tạo, vì sự phát triển phồn vinh của đất nước, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ cha anh.