Chuyện lô hàng cà phê của Việt Nam bị trả lại tới 80% do không bảo đảm chất lượng đang là bài học cảnh tỉnh cho ngành sản xuất và chế biến cà phê nước ta. Một số ngành chế biến nông sản khác cũng sẽ không tránh khỏi tình trạng này nếu vẫn giữ cách làm ăn cũ, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó có ngành chè. Mặc dù có khoảng 122.500ha chè, đứng thứ 5 thế giới về diện tích nhưng chè Việt vẫn chiếm thị phần khá khiêm tốn trong xuất khẩu chè thế giới do chất lượng thấp. Thực tế này đòi hỏi các ngành chức năng phải có những giải pháp mạnh và dài hơi.

Sản lượng thấp, chất lượng kém

Theo đánh giá của một số chuyên gia, có lẽ đó là điệp khúc muôn thuở của ngành chè nói chung. Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, tuy có “lịch sử” phát triển chè sớm nhất với 91,6 nghìn héc-ta, chiếm 74,8% diện tích chè toàn quốc nhưng bình quân giá trị sản xuất chè mới đạt từ 13 đến 14 triệu đồng/ha/năm, năng suất chè búp tươi khoảng 60 tạ/ha, bằng 60-70% các nước trong khu vực. Những khó khăn đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng chè là do hệ thống cơ sở chế biến phát triển không cân đối với nguồn nguyên liệu; kỹ thuật canh tác lạc hậu, việc áp dụng cơ giới hóa còn hạn chế, cơ cấu giống kém chất lượng... Tình trạng phát triển của hàng nghìn cơ sở chế biến tư nhân không những gây căng thẳng về nguồn nguyên liệu mà còn dẫn đến không bảo đảm chất lượng nguyên liệu đầu vào. Bên cạnh đó, do công nghệ chế biến lạc hậu nên hầu hết chè xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu, chè thành phẩm chỉ chiếm 7%.

Thu hoạch chè (ảnh thainguyen.gov.vn)

Ông Nguyễn Huy Tài, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Chè Việt Nam cho rằng, sở dĩ chè nước ta không có danh tiếng trên thế giới, giá cả bấp bênh là do chưa tạo được niềm tin đối với khách hàng. Hiện, giá chè xuất khẩu của Việt Nam đang có xu hướng giảm, năm 2006 đạt 1.057USD/tấn, giảm 51USD/tấn so với năm 2005 và gần 200USD/tấn so với năm 2000, có nghĩa là chúng ta đã mất 1/3 giá.

Bên cạnh đó, do thiếu nguyên liệu nên nhiều nhà máy nhập ồ ạt mà không quan tâm đến chất lượng đầu vào, không kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, trong khi người dân thì chỉ biết lợi nhuận trước mắt, chạy đua về mặt diện tích mà không chú trọng đến chất lượng và năng suất.

Hướng đi tất yếu

Các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu Chè (Thanh Ba - Phú Thọ) cho rằng, những năm trước, chất lượng chè tuy thấp nhưng vẫn tiêu thụ được vì ở những thị trường dễ tính. Hiện nay, những thị trường quen thuộc đã mất, chỉ có thể bán được chè chất lượng cao, bảo đảm an toàn thực phẩm, trong khi phải cạnh tranh gay gắt với sản phẩm của các nước có quy trình sản xuất tiên tiến. Do vậy, ngay từ bây giờ chúng ta phải sản xuất chè an toàn, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu tiêu thụ nội địa cũng như xuất khẩu. Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 43/2007/QĐ-BNN về quy định quản lý sản xuất, chế biến và chứng nhận chè an toàn. Theo đó, chè an toàn được sản xuất, chế biến, bảo quản đúng quy trình kỹ thuật, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, chất điều hòa sinh trưởng và vi sinh vật có hại dưới mức cho phép. Ông Lê Văn Giá, Phó chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam khẳng định: Muốn sản xuất chè an toàn phải có sự thống nhất giữa vùng nguyên liệu và các nhà máy chế biến. Hiệp hội đã đề xuất với các tỉnh, cơ quan quản lý đưa ra tiêu chí để cấp giấy phép sản xuất, kinh doanh chè. Theo đó, muốn được cấp giấy phép, các doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận về tiêu chuẩn thiết bị, nhà xưởng, vệ sinh công nghiệp đồng thời phải có vùng nguyên liệu ổn định, đáp ứng ít nhất 70% năng lực sản xuất.

Có một thực tế là hiện nay chè được coi là an toàn giá cũng chỉ ngang bằng với các loại chè khác. Trong khi đó, sản xuất chè an toàn khá tốn kém và đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao. Điều này khiến nhiều nông dân không muốn thay đổi thói quen sản xuất cũ. Ông Lê Quang Thành ở khu 7, xã Gia Điền (Hạ Hòa - Phú Thọ), Chủ nhiệm Câu lạc bộ Chè an toàn xã Gia Điền bày tỏ: “Mặc dù chúng tôi đã xây dựng Câu lạc bộ sản xuất chè an toàn, cam kết về nguồn gốc nguyên liệu và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng trên thực tế giá chỉ bằng chè thường. Hy vọng rằng, những doanh nghiệp, nhà máy sẽ “bắt tay” cùng chúng tôi, ký hợp đồng cam kết thu mua nguyên liệu để ổn định giá cho bà con nông dân”.

Chúng ta mới có quy định về sản xuất chè an toàn, còn chứng nhận sản phẩm an toàn theo tiêu chuẩn của thế giới thì chưa thực hiện được vì chưa có hành lang pháp lý. Vì vậy, ngành chè nên kết hợp với các tổ chức quốc tế chứng nhận chất lượng cho chè Việt Nam, như tổ chức Utz Kapeh đã chứng nhận cho cà phê. Nếu có chứng nhận này thì chè sẽ có thị trường ổn định và bán được giá cao. Ông Nguyễn Văn Thiết, Trưởng đại diện Utz Kapeh tại Việt Nam cho biết: “Chúng tôi sẵn sàng cùng những người trồng chè đi lên. Giấy chứng nhận có giá trị 12 tháng, năm sau vận hành lại. Khi cấp giấy chứng nhận, chúng tôi sẽ giới thiệu sản phẩm, chào hàng với toàn thế giới nên nếu khách hàng bị thu giấy chứng nhận, họ sẽ bị mất uy tín”.

Ông Tài hứa hẹn: “Chúng tôi khuyến khích bà con bán thẳng cho nhà máy và không bao giờ sợ ế bởi ngành chè luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu chế biến, nhất là nguyên liệu sạch. Nhưng nếu chỉ một gia đình làm chè an toàn thì không có ý nghĩa, làm sao điều đó phải trở thành ý thức của cộng đồng. Nếu người dân cam kết nguyên liệu mình cung cấp có xuất xứ rõ ràng với số lượng lớn, được sản xuất theo quy trình an toàn thì chắc chắn không bao giờ chúng tôi để người nông dân bị thiệt...”.

THU PHƯƠNG